Thuốc gây độc cho thận
Thuốc gây nhiễm độc ở ống thận: Những thuốc này làm cho tế bào biểu mô ở ống thận bị tổn thương.
Kháng sinh thuộc nhóm aminozid: Tỷ lệ thuốc gây độc cho thận là 10%. Thuốc gây độc nhiều nhất là neomycin nhưng hiện nay neomycin dạng tiêm không còn dùng và dạng uống đơn thuần cũng hiếm, thường chỉ dùng dưới dạng phối hợp trong các dung dịch hay thuốc mỡ (nhỏ mắt, dùng ngoài). Streptomycin có độc tính thấp nhất lại dùng trong phác đồ điều trị lao ngắn ngày với liều, thời gian xác định. Vì thế ít khi gặp trường hợp hai thuốc này gây độc. Thuốc hiện nay dùng là gentamycin và tobramycin, đặc biệt gentamycin bị lạm dụng nhiều (trong các bệnh nhiễm khuẩn hô hấp cấp ở trẻ em dưới 5 tuổi) nên tỷ lệ gentamycin gây độc trở nên chiếm tỷ lệ cao trong nhóm.
Kháng sinh cephalosporin thế hệ 1: Cephalosporin có nhiều thế hệ, chỉ thế hệ 1 (bao gồm các loại cefalexin, cefalotin, cefazolin, cefadroxil) là gây độc cho thận còn các thế hệ 2 và 3 thì an toàn hơn.
Kháng sinh chống nấm amphotericin B: Tác dụng lên lipid của màng tế bào gây độc. Biểu hiện thường thấy là suy thận cấp, đái tháo nhạt, nhiễm toan do ống thận.
Thuốc giảm đau: Paracetamol gây suy thận cấp nhưng phải dùng liều khá cao (mỗi ngày 15g) hoặc gây suy thận mạn với liều dùng tương đối cao, kéo dài, kèm thêm uống nhiều rượu.
Thuốc giảm lưu lượng máu đến thận:
Các kháng viêm không steroid thế hệ cũ: Chúng ức chế việc sản xuất prostaglandin, làm giảm lưu lượng máu đến thận, giảm độ lọc cầu thận, dẫn đến suy thận, tuy nhiên tác dụng độc này chỉ gây ra khi dùng các thuốc kéo dài. Khi ngừng thuốc, thận sẽ được phục hồi.
Các thuốc giãn mạch điều trị tăng huyết áp: Các thuốc giãn mạch điều trị tăng huyết áp (trong đó có nhóm thuốc ức chế angiotensin II) sẽ làm giãn mạch tụt huyết áp, làm giảm lượng máu trước thận gây suy thận chức năng.
Thuốc làm tắc ống thận: Các sulfamid kết tủa trong ống thận gây ra hiện tượng này nhất là khi dùng liều cao và uống ít nước. Để đề phòng, khi dùng sulfamid cũng như riêng co-trimoxazol nên uống nhiều nước.
Thuốc gây dị ứng miễn dịch ở ống thận - mô kẽ: Các thuốc này bao gồm nhiều nhóm như các kháng sinh nhóm betalactam (ampicilin, penicilin, amoxicilin), các cephalosporin, erythromycin, vancomycin, minocyclin, kháng viêm giảm đau không steroid thế hệ cũ (indomethacin), các thuốc chống tiết acid (cimetidin), thuốc ngủ (phenobarbital), thuốc chống loạn lipid máu (clofibrat). Tuy danh mục liệt kê ra rất nhiều nhưng vì thuốc chỉ gây dị ứng cho một số người nhất định nên trong thực tế ít gặp và khó có cách đề phòng.
Thuốc gây hội chứng thận hư: Chúng gây lắng đọng các phức hợp miễn dịch dẫn đến hội chứng thận hư nhưng không gây suy thận. Khi ngừng thuốc, cầu thận có thể trở lại trạng thái bình thường. Trong các thuốc này thường kể đến thuốc chữa thoái hóa khớp (D-peni-cilamin), thuốc chữa tăng huyết áp (catopril), thuốc chữa động kinh (trimethadion); các muối bismuth.
Thuốc gây suy thận mạn: Nguyên nhân do thuốc tích lũy trong ống thận khi dùng liều cao, kéo dài. Thuốc gây độc tính này hiện còn dùng là thuốc điều trị bệnh tâm thần litium carbonat, thuốc chống ung thư (cisplatin).
Một số chú ý khi dùng thuốc:
Hầu hết thuốc uống, thuốc tiêm, đôi khi cả thuốc dùng ngoài đều đi qua thận (dưới dạng biến đổi hay không biến đổi). Người bình thường, dùng các loại thuốc trên đã có thể bị độc. Người mà khả năng thải trừ của thận kém (độ thanh thải thận thấp) thì thuốc ở lại lâu trong thận càng dễ bị độc hơn. Bởi vậy trước hoặc trong khi dùng thuốc cần phải xem xét độ thanh thải creatin để chọn và điều chỉnh liều thích hợp. Mặt khác phải tìm hiểu kỹ các bệnh khác của thận thông qua các xét nghiệm cụ thể (như xét nghiệm protein niệu). Những nơi không làm được các xét nghiệm này thì nên bắt đầu với liều thấp, tăng dần đến đủ và duy trì liều điều trị , theo dõi chặt chẽ các biểu hiện lâm sàng về thận (như cần xem lượng nước tiểu tiết nhiều hay ít, trong hay đục). Ngoài ra, cần chú ý một số tình trạng liên quan đến sức khỏe như: tuổi tác (quá nhỏ, quá già), có kèm thêm các bệnh khác (xơ gan, tiểu đường, các bệnh tim mạch), cơ địa dị ứng. Nếu có điều kiện thay thì tránh dùng các thuốc gây độc cho thận.
Trong điều kiện cần phải dùng những nhóm thuốc này chữa bệnh thì lưu ý chọn loại thuốc có độ độc thấp nhất, chỉ dùng với liều đủ có hiệu lực, giữ đúng khoảng cách giữa các lần dùng và chỉ trong một thời gian nhất định. Thí dụ: người viêm khớp cần phải dùng kháng viêm không steroid nhằm giảm đau, giảm viêm nhưng cần hiểu đây chỉ là thứ thuốc chữa triệu chứng nên chỉ dùng khi thật cần thiết, khi đã giảm được đau và viêm (cơ thể có thể chịu đựng được) thì nên ngừng thuốc.
Phần lớn thuốc gây độc với thận trong điều kiện dùng bình thường là các thuốc gây tổn thương ống thận, nhiều nhất vẫn là các kháng sinh. Đây là loại thuốc có tần suất sử dụng cao. Vì thế khi dùng kháng sinh, cần lưu ý đến tác dụng gây độc đối với thận, nhất là với người già, trẻ nhỏ tuổi, người có các bệnh khác kèm theo, hoặc người vốn có chức năng thận suy giảm.