Nguyên quán hay quê quán?
Vừa qua, anh N.T.B đến UBND phường Trung Tự để làm khai sinh cho con gái mới ra đời. Theo đúng quy định của thủ tục hành chính "một cửa", anh B xuất trình sổ hộ khẩu, giấy đăng ký kết hôn và giấy chứng sinh của cháu bé, rồi nhận giấy hẹn một ngày sau đến lấy kết quả. Ngày hôm sau, anh nhận được giấy khai sinh của cháu bé, với phần quê quán được khai đúng theo quê quán trong giấy đăng ký kết hôn của anh: Lạng Sơn.
Sinh ra và lớn lên tại Hà Nội, anh B cũng khai trong giấy khai sinh của mình vào mục quê quán là Lạng Sơn. Tuy nhiên, anh chỉ biết tới quê quán Lạng Sơn qua lời kể của người cha, người thực sự đã sinh ra tại địa phương này.
Trên thực tế, việc khai quê quán từ trước đến nay của rất nhiều người đã được thực hiện... sai! Theo Nghị định 83/1998/NĐ-CP ngày 10-10-1998 của Chính phủ, quê quán của một người được khai theo nơi sinh của bố người đó, chứ không phải quê quán của bố người đó.
Tuy nhiên, từ ngày 1-4-2006, Nghị định 158/2005/NĐ-CP về đăng ký và quản lý hộ tịch ra đời đã sửa đổi điều này, trong đó quy định rằng khi đăng ký khai sinh, quê quán của trẻ được xác định theo quê quán của cha đẻ. (Nếu không xác định được quê quán của cha đẻ thì xác định theo quê quán của mẹ đẻ). Sự bất hợp lý nảy sinh cũng chính từ sự sửa đổi này. Và sự không rõ ràng giữa hai khái niệm nguyên quán và quê quán đã được bộc lộ.
Có quê mà chẳng biết quê là gì...
Thực tế cho thấy, vẫn còn nhiều cách hiểu khác nhau về quê quán của một con người, thậm chí điều này còn thể hiện khá rõ ở một số văn bản pháp luật, văn bản hướng dẫn của các cơ quan chuyên môn. Việc quy định không thống nhất hoặc quy định thiếu khoa học về quê quán đã tạo ra hàng loạt bất cập trong công tác quản lý cũng như các hoạt động ở nhiều lĩnh vực khác nhau. Và trong công tác quản lý hộ tịch là một thí dụ điển hình...
Quê quán của một đứa trẻ theo quy định của pháp luật về hộ tịch trước đây như đã nói ở trên chính là nơi sinh của cha đẻ đứa trẻ đó. Và đây là quy định phù hợp với công tác quản lý nói chung cũng như các mối quan hệ sau này của con người đó. Tuy nhiên, theo quy định của các văn bản về hộ tịch hiện hành, việc quy định như trên đã bị hủy bỏ.
Theo lý giải của bà Đàm Thị Kim Hạnh, Trưởng phòng Hành chính Tư pháp, Sở Tư pháp Hà Nội, việc thay thế trên là để tránh hiện tượng xuất hiện nhiều quê quán trong một gia đình (ông, bố, con, cháu... mỗi người một quê) và phù hợp với chủ trương không làm mất gốc tích của một con người.
Cũng theo ý kiến của bà Hạnh, thực tế hoạt động hộ tịch cho thấy, có khá nhiều trường hợp công dân muốn thay đổi, cải chính hộ tịch cho đúng với "cội nguồn" của mình, do đó những quy định mới như trên sẽ góp phần hạn chế các trường hợp cải chính hộ tịch cũng như giảm bớt thời gian, tiền bạc cho công dân. Tuy nhiên, việc quy định trên vô hình trung đã tạo rất nhiều khó khăn cho các hoạt động sau này, thậm chí nhiều lĩnh vực không có tính khả thi. Thí dụ, một công dân khi đăng ký quê quán theo quê của cha đẻ, tiến hành xác minh lý lịch, nhưng khi cả gia đình đã chuyển đi sinh sống ở một nơi khác trong nhiều năm và địa phương đó đã bị chia tách, sáp nhập địa giới hành chính thì công việc đó sẽ được xử lý như thế nào?
Trả lời câu hỏi này, bà Hạnh cho biết thêm, việc xác minh đó sẽ xác minh theo địa giới hành chính mới, tuy nhiên, nếu không xác định được thông tin chính xác từ các cán bộ cơ sở của địa giới hành chính mới này thì việc xác minh coi như... "công cốc"!
Trên thực tế, chẳng hạn khi đi xác minh lý lịch để phát triển Đảng, rất nhiều cán bộ xác minh đã lúng túng vì khi đến nơi được gọi là quê quán của một người thì chẳng còn ai biết người đó và gia đình người đó, vì cả mấy đời họ đã sinh sống ở nơi khác! Xác minh một cách máy móc về quê quán như vậy đã làm thiếu tính chính xác của công việc xác minh, vốn là một yêu cầu rất quan trọng trong công tác nhân sự.
Vậy nên chăng ngành tư pháp cần nghiên cứu sửa đổi lại quy định này, đưa cả hai khái niệm nguyên quán và quê quán vào giấy khai sinh cho một người. Điều này vừa xác định rõ gốc tích, vừa xác định chính xác những biến động về di trú. Điều này sẽ góp phần hữu hiệu trong công tác quản lý xã hội.
| Theo quy định của Nghị định 158/2005/NĐ-CP, các giấy tờ hộ tịch được coi là căn cứ pháp lý xác nhận điều kiện hộ tịch của cá nhân đó, trong đó có Giấy khai sinh. Cũng theo quy định của Nghị định 158, Giấy khai sinh được coi là giấy tờ hộ tịch gốc của mỗi cá nhân. Điều này có nghĩa, mọi giấy tờ của cá nhân có nội dung ghi về họ, tên, chữ đệm, ngày, tháng, năm sinh; giới tính; dân tộc; quốc tịch; quê quán, quan hệ cha, mẹ, con phải phù hợp với Giấy khai sinh của người đó. |