Cần Giờ hướng tới một đô thị sinh thái

Cần Giờ vốn là vùng đất căn cứ quân sự tiền tiêu của chế độ cũ. Chung quanh đồn bốt quân sự là những vùng dân cư nghèo, với 2.808 ha đất trồng trọt (chủ yếu trồng lúa một vụ năng suất thấp). Theo tài liệu còn lưu giữ, trong cuộc chiến tranh vừa qua, riêng rừng Sác - Cần Giờ, cùng với hai triệu tấn bom đạn, địch đã rải hơn bốn triệu gallons chất độc hóa học, trong đó có 665.666 gallons chất độc da cam, làm 40.000 ha rừng ngập mặn bị hủy diệt hoàn toàn. Hệ thống giao thông đường bộ chỉ có 13 km nối liền hai xã. Ngày nay, Cần Giờ tự hào với sự đổi thay đang diễn ra trên mọi lĩnh vực.

Cần Giờ đã có những chủ trương, giải pháp đúng đắn, trong đó biện pháp hàng đầu là thực hiện có hiệu quả chương trình chuyển dịch cơ cấu sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp và mặt nước bãi bồi ven sông, ven biển. Từ năm 1998, ở bốn xã phía bắc của huyện đã bắt đầu chuyển đổi diện tích trồng lúa năng suất thấp sang nuôi tôm công nghiệp, bán công nghiệp, nuôi trên ruộng lúa. Nghề nuôi tôm sú tuy còn nhiều khó khăn như ô nhiễm môi trường, dịch bệnh cần được tiếp tục khắc phục nhưng những năm qua đã mang lại hiệu quả, góp phần xóa đói, giảm nghèo, giải quyết việc làm, tăng thu nhập cho người dân, nâng cao hiệu suất sử dụng đất, tạo nguồn sản lượng nông sản hàng hóa ổn định, có giá trị kinh tế cao cung cấp cho thị trường trong nước và xuất khẩu. Đồng thời còn mở ra nhiều ngành nghề mới về thương mại - dịch vụ phục vụ nghề nuôi tôm, tăng giá trị sử  dụng đất nông nghiệp, góp phần thu hút đầu tư, thúc đẩy các ngành kinh tế khác phát triển.

Đến nay, toàn huyện có 3.361 hộ trực tiếp thả nuôi trên diện tích 4.965 ha, đạt sản lượng 6.200 tấn, trị giá 385 tỷ đồng, năng suất bình quân đạt 1,24 tấn/ha, riêng nuôi tôm chuyên canh trên ao có 2.673 ha, năng suất bình quân đạt 2,12 tấn/ha. Việc khai thác đất hoang, bãi bồi ven sông, ven biển để nuôi thủy sản cũng đạt được kết quả khả quan; năm 1992 tiến hành thử nghiệm nuôi nhuyễn thể hai mảnh vỏ (nghêu, sò huyết, hàu) với 130 ha, đến nay đã có 3.000 ha đang được khai thác. Sản lượng nghêu từ 17.000 đến 28.000 tấn/năm; sò huyết bình quân 1.000 tấn/năm. Ngoài ra, việc đa dạng hóa vật nuôi cũng được khuyến khích phát triển, hiện có hơn 12 chủng loài thủy sản đang được bà con nông dân sản xuất như: cá rô đồng, cá kèo, cá rô phi, cá điêu hồng, cá tra, cá tai tượng, cá chẽm, cá mú, cá sấu, cua, ốc hương... Các mô hình nuôi tôm công nghiệp và bán công nghiệp đem lại hiệu quả kinh tế cao, bình quân một ha đất nông nghiệp sau khi chuyển đổi đã tăng giá trị sản xuất lên 20 lần và lợi nhuận đạt hơn 80 lần so với trồng lúa và cói trước đây. Từ đó đời sống của nông dân được cải thiện rõ rệt trong mấy năm qua.

Cơ cấu kinh tế nông nghiệp đã chuyển dịch bước đầu theo hướng tích cực. Vườn cây ăn trái được đầu tư ở Cần Thạnh, Long Hòa và một số khu vực ở các xã Bình Khánh, An Thới Đông gắn với phát triển du lịch nhà vườn. Giá trị tổng sản lượng của nông nghiệp năm 2005 ước đạt hơn 14 tỷ đồng.

Thương mại dịch vụ - du lịch sinh thái được Cần Giờ xác định là ngành kinh tế mũi nhọn của huyện. Các thành phần kinh tế được khuyến khích đầu tư xây dựng hạ tầng và phát triển hoạt động kinh doanh, phục vụ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cho nông dân. Vì vậy Cần Giờ lúc này không còn là một vùng quê thuần nông mà đã có những hoạt động kinh tế sôi động. Mấy năm qua, hoạt động thương mại đạt tốc độ tăng trưởng bình quân 22, 52%/năm. Số doanh nghiệp và hộ cá thể hoạt động trên lĩnh vực dịch vụ du lịch cũng tăng bình quân 21%/năm, giải quyết việc làm tại chỗ cho hàng nghìn lao động. Trong năm năm đã triển khai 15 dự án du lịch có tổng vốn đăng ký hơn 1.000 tỷ đồng, trong đó tám dự án với tổng vốn đầu tư 91 tỷ đồng đã được đưa vào khai thác. Khu du lịch 30-4, Vàm Sát là những điểm du lịch chủ yếu thu hút khách du lịch của Cần Giờ hiện nay, bình quân mỗi năm đón tiếp 300 nghìn lượt khách, doanh thu đạt hàng chục tỷ đồng.

 Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng tại Cần Giờ không ngừng phát triển. Sau năm 1975, Cần Giờ chỉ có một tuyến đường bộ 13 km nối liền hai xã Cần Thạnh - Long Hòa, các xã còn lại, đi lại hết sức khó khăn, chủ yếu bằng đường thủy, điện chỉ sử  dụng máy phát diesel ở những cụm dân cư trung tâm các xã. Hơn ba mươi năm qua, Cần

Giờ có nhiều tiến bộ vượt bậc trên lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật; hệ thống giao thông nông thôn phát triển nhanh, xây dựng mới đường bộ ở các xã (ngoại trừ xã đảo Thạnh An), đường Rừng Sác với kết cấu nền đường cấp phối sỏi đỏ hoàn thành năm 1986 hiện đang được nâng cấp, mở rộng cho sáu làn xe. Cầu Dần Xây hoàn thành, rút ngắn đáng kể thời gian lưu thông, tạo nhiều thuận lợi cho huyện trong việc bảo đảm an ninh quốc phòng, phát triển kinh tế - xã hội nói chung, trong đó có việc khai thác tiềm năng về du lịch sinh thái. Lưới điện quốc gia được đưa về Cần Giờ năm 1990, đến nay đã phục vụ đắc lực cho các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội trên địa bàn, các ngành nghề và phục vụ thường xuyên nhu cầu tiếp cận mọi mặt thông tin, sinh hoạt đời sống và hưởng thụ văn hóa cho hơn 90%  số dân.

Cần Giờ là một vùng  có nhiều tiềm năng, chiếm một phần ba diện tích toàn thành phố, đang kêu gọi một cuộc đầu tư phát triển. Các chương trình xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật, thu hút đầu tư trong kế hoạch năm năm 2000 - 2005 có nhiều thuận lợi; các công trình hạ tầng kinh tế quan trọng được khởi động, tốc độ đầu tư tăng khá nhanh.

Để giúp cho Cần Giờ đi lên, đạt được chuyển biến tích cực, TP Hồ Chí Minh xác định khâu đột phá trong năm năm tới đối với Cần Giờ là phải đầu tư mạnh, phát triển đồng bộ giao thông đường bộ đi trước một bước để tạo đòn xeo thúc đẩy các lĩnh vực, các ngành kinh tế khác cùng phát triển. Từ đó góp phần chăm lo, cải thiện đời sống nhân dân trên địa bàn. Đầu tư 600 tỷ đồng nâng cấp và mở rộng đường Rừng Sác dài 31 km từ phà Bình Khánh đến Cần Giờ,  coi đây là một dự  án chủ chốt để đánh thức các tiềm năng của Cần Giờ. Khi có hệ thống giao thông thuận tiện Cần Giờ sẽ thu hút các nhà đầu tư về đầu tư cơ sở hạ tầng đô thị.

Ông Đoàn Văn Thu, Chủ tịch UBND huyện không giấu tham vọng muốn Cần Giờ vươn lên thành một đô thị sinh thái của thành phố. Sinh thái có rồi, vấn đề đặt ra là phát triển đô thị làm sao hài hòa với sinh thái và bảo tồn được sinh thái. Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện nhiệm kỳ 2005 - 2010 đã xác định rõ bảy chương trình kinh tế - xã hội và mười công trình trọng điểm của huyện về hạ tầng phục vụ dân sinh. Do phần lớn diện tích đất Cần Giờ thuộc Khu dự trữ sinh quyển phải bảo vệ nghiệm ngặt nên Cần Giờ mạnh dạn lập dự án xây dựng khu đô thị lấn biển Cần Giờ rộng 600 ha, trong đó 400 ha là đô thị, 200 ha bãi biển. Kinh phí đầu tư cho dự án này khoảng 180 triệu USD. Kết hợp với khu dân cư hiện có hình thành một đô thị rộng 2.000 ha với 12.000 dân sinh sống. Một dự án lớn khác là dự án khu dân cư nhà vườn du lịch Phước Lộc  do Công ty TNHH Phước Lộc đầu tư gần 600 tỷ đồng đã được triển khai xây dựng 490 biệt thự kiểu mẫu với diện tích xây dựng 35-40%, còn lại hơn 60% diện tích dành cho cây xanh, công viên, công trình công cộng...

Với lợi thế hiện có như Khu dự trữ sinh quyển thế giới rộng 38.000 ha là lá phổi của thành phố, di tích lịch sử quốc gia Rừng Sác, bãi biển 30-4, khu du lịch Lâm viên có "vương quốc khỉ", khu du lịch Vàm Sát,... những dự án đầu tư hạ tầng đô thị - du lịch mới đang thúc Cần Giờ vươn vai tạo diện mạo mới thành một khu đô thị du lịch sinh thái của thành phố. Trước yêu cầu phát triển Cần Giờ trong giai đoạn hiện nay và tương lai đòi hỏi thành phố, trung ương phải tập trung nghiên cứu điều chỉnh lại, hoàn thiện quy hoạch tổng thể huyện đến năm 2010 và tầm nhìn đến năm 2020 theo định hướng phát triển, bền vững và ổn định lâu dài. Trong đó xác định rõ quy mô, diện tích, ranh giới Khu Dự trữ sinh quyển (vùng bảo vệ nghiêm ngặt của Khu Bảo tồn thiên nhiên) và vùng đệm, vùng chuyển tiếp để định hướng đầu tư phát triển hợp lý.

Có thể bạn quan tâm