Cân bằng giữa phát triển và môi trường

Những ngày cuối tháng 3, khi những hàng xe xếp dài trên Quốc lộ 19 chờ ký gửi hương vị ngọt lành từ mía để vào Nhà máy Đường An Khê, phường An Khê, tỉnh Gia Lai thì câu chuyện về khói bụi từ nhà máy này lại thêm một lần nóng lên.

Cột khói từ Nhà máy Đường An Khê.
Cột khói từ Nhà máy Đường An Khê.

Từ lâu, khói bụi mỗi mùa vụ không chỉ phủ lên những mái nhà ven sông Ba mà còn phủ lên tâm tư của người dân các phường An Bình, An Khê và vùng lân cận. Câu hỏi day dứt hiện nay là bao giờ tình trạng khói bụi này mới chấm dứt?

Bức tranh nhiều chiều về khói bụi

Nhà máy Đường An Khê nhiều năm qua là đầu ra quan trọng cho hàng nghìn hộ trồng mía, góp phần ổn định sinh kế tại An Khê, Kông Chro, Đak Pơ… Tuy nhiên, cùng với hoạt động sản xuất là tình trạng khói bụi gây bức xúc cho người dân sống gần nhà máy. Ông V.H., người dân tổ dân phố 7, phường An Bình phản ánh, khoảng 4-5 năm gần đây, nhất là giai đoạn 2024-2026, bụi và khói gia tăng rõ rệt, nhất là từ khi nhà máy điện sinh khối vận hành song song. Bụi đen phủ kín nhà cửa, quần áo, ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt hằng ngày.

Vào đợt cao điểm (thường từ tháng 4-6), tro bụi từ các lò hơi theo chiều gió phát tán xuống khu dân cư gần nhà máy, tập trung tại tổ dân phố 3 và 7, phường An Bình. Dù vậy, người dân vẫn thể hiện sự chia sẻ, khi phần lớn ý kiến cho rằng khó có thể loại bỏ hoàn toàn bụi, mà chỉ mong nhà máy giảm bớt ô nhiễm. Nhiều người đề nghị có đơn vị quan trắc độc lập lấy mẫu theo mùa vụ để đánh giá chính xác mức độ và tác động của bụi khói đối với sức khỏe, thay vì những phản ứng cực đoan như yêu cầu đóng cửa nhà máy.

Ông Nguyễn Văn Hảo, Phó Giám đốc Nhà máy Đường An Khê cho biết: Đơn vị không phủ nhận tình trạng bụi tro vượt chuẩn ở một số thời điểm, nhất là khi vận hành lò hơi tối đa công suất để tiêu thụ mía nguyên liệu, hỗ trợ nông dân sau bão số 13. Các giải pháp khắc phục dự kiến triển khai sau khi kết thúc vụ sản xuất (cuối tháng 5), gồm thay thế công nghệ lọc bụi Multi-Cyclone, bổ sung hệ thống lọc tĩnh điện, với tổng mức đầu tư khoảng 70 tỷ đồng; thiết bị đã được đặt hàng và thời gian lắp đặt khoảng 60 ngày.

Theo nhà máy, kế hoạch nâng cấp đã được chuẩn bị từ trước, nhằm đáp ứng quy chuẩn 19:2024/BTNMT, trong đó ngưỡng bụi tổng cho phép giảm từ 128 mg/Nm³ xuống 40 mg/Nm³. Hiện đơn vị không vận hành tối đa công suất, cân nhắc hài hòa giữa yêu cầu bảo vệ môi trường và nguy cơ đình trệ hàng nghìn ha mía nếu dừng dây chuyền đột ngột.

Chính quyền phường An Khê và An Bình cho biết, đã ghi nhận nhiều phản ánh của người dân sống gần Nhà máy Đường An Khê. Theo Chủ tịch UBND phường An Khê Đặng Quốc Hoài Huy, kiểm tra liên ngành ngày 21/1/2026 xác định có tình trạng bụi tro phát tán từ lò hơi vào cao điểm sản xuất. Nhà máy đã thừa nhận và cam kết khắc phục, đổi mới công nghệ sau vụ mùa. Địa phương cũng cho biết, không có thiết bị chuyên môn để lấy mẫu, kiểm nghiệm tại chỗ; dữ liệu quan trắc không khí được truyền về Sở Nông nghiệp và Môi trường để giám sát, trong khi việc đánh giá chất lượng môi trường thuộc thẩm quyền của Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh và Sở.

Giải pháp nào cho tương lai vùng đất mía?

Chi cục trưởng Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Nguyễn Việt Cường cho biết: Chi cục đã nhiều lần kiểm tra, thanh tra Nhà máy Đường An Khê; các hạng mục bảo vệ môi trường cơ bản đáp ứng giấy phép, tồn tại ở mức nhỏ. Tuy nhiên, cơ quan chức năng yêu cầu nhà máy đẩy nhanh tiến độ nâng cấp hệ thống xử lý bụi, hoàn thành trước quý IV/2026 thay vì quý IV/2027. Dù vậy, thực tế người dân vẫn phản ánh bụi phát tán, cho thấy khoảng cách giữa kết quả kiểm tra và đời sống. Công tác quan trắc định kỳ (mỗi quý/lần) đã được thực hiện, song còn thiếu hoạt động hậu kiểm và giám sát độc lập trực tiếp tại khu dân cư như người dân mong muốn.

Theo ông Nguyễn Việt Cường, tỉnh kiên định quan điểm phát triển bền vững, không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế. Vì vậy, Sở Nông nghiệp và Môi trường vừa hỗ trợ doanh nghiệp sản xuất, vừa yêu cầu tuân thủ nghiêm các quy định bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, do hạn chế về thiết bị và thẩm quyền, chính quyền cơ sở vẫn phụ thuộc vào cơ quan chuyên môn cấp tỉnh trong giám sát khí thải, dẫn đến khoảng cách giữa số liệu quan trắc và cảm nhận thực tế của người dân.

Người dân kiến nghị cần thiết lập hệ thống quan trắc môi trường độc lập, lấy mẫu thường xuyên tại khu dân cư và công bố công khai, khách quan, nhằm củng cố niềm tin vào công tác quản lý môi trường của nhà máy. Bài toán “môi trường-phát triển” vì vậy đòi hỏi trách nhiệm lớn hơn từ cả doanh nghiệp và cơ quan quản lý: Doanh nghiệp cần phải chủ động đổi mới công nghệ, trong khi Nhà nước cần tăng cường giám sát, xử lý nghiêm vi phạm và truyền thông minh bạch, kịp thời để bảo đảm niềm tin của cộng đồng.

Một điểm tích cực là phản hồi từ nhà máy cho thấy tinh thần cầu thị, sẵn sàng phối hợp, chủ động khắc phục và công khai lộ trình đầu tư lớn để nâng cấp công nghệ. Ở chiều ngược lại, cộng đồng địa phương cũng thể hiện thái độ xây dựng, ưu tiên đối thoại, hợp tác; không yêu cầu đóng cửa cực đoan mà mong muốn các giải pháp pháp lý rõ ràng nhằm bảo đảm môi trường sống trong lành hơn.

Có thể bạn quan tâm