Giảm ô nhiễm rác thải nhựa đại dương

Những năm qua, chúng ta đã có nhiều giải pháp và hành động cụ thể, nhưng chưa giải quyết được triệt để nguồn gốc phát sinh cũng như những lớp trầm tích rác thải nhựa tồn tại hàng trăm năm dưới đáy biển. Mới đây, các nhà khoa học trong nước đã có những nghiên cứu mở ra hướng đi mới trong việc xử lý vấn đề này.

Các nhà nghiên cứu thu thập mẫu để phân tích, đánh giá tác động của rác thải nhựa với môi trường và sức khỏe con người. (Ảnh: THÚY HƯỜNG)
Các nhà nghiên cứu thu thập mẫu để phân tích, đánh giá tác động của rác thải nhựa với môi trường và sức khỏe con người. (Ảnh: THÚY HƯỜNG)

Đối với hầu hết các quốc gia biển, xử lý rác thải nhựa đại dương chưa bao giờ là vấn đề dễ dàng. Theo báo cáo của Tổ chức quốc tế về bảo tồn thiên nhiên (WWF), mỗi năm thế giới có hàng chục triệu tấn rác thải nhựa đại dương (trong đó Việt Nam có khoảng 0,5 triệu tấn).

Rác thải nhựa gây ô nhiễm cho môi trường biển, ảnh hưởng nghiêm trọng an toàn và quá trình phát triển của hệ sinh thái biển. Bảo vệ môi trường biển, giảm thiểu và hướng đến một đại dương không rác thải nhựa không còn là vấn đề của mỗi quốc gia, mà là vấn đề toàn cầu.

Tại Việt Nam, cùng với Luật Bảo vệ Môi trường 2020, đã có nhiều nghị định, quyết định về xử phạt, giảm thiểu sản xuất, tiêu thụ, sử dụng nhựa và các sản phẩm từ nhựa. Song song đó là các giải pháp thu gom, ngăn chặn nguồn rác thải nhựa từ đất liền và các hoạt động kinh tế, du lịch biển đổ ra đại dương.

Báo cáo của nhóm các nhà khoa học Viện Khoa học khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) cho thấy: Các hướng nghiên cứu chính ở nước ta hiện nay chủ yếu về mật độ, hiện trạng chất thải nhựa. Đây là một trong số các hướng nghiên cứu cơ bản nhất trong lĩnh vực chất thải nhựa.

Các nghiên cứu này thường chỉ ra sự xuất hiện của chất nhựa thông qua các con số định lượng về khối lượng và số lượng mảnh nhựa, kích thước, hình dạng, màu sắc...

Các nghiên cứu về mật độ chất thải nhựa biển, đại dương ở Việt Nam thường được thực hiện ở các bãi biển; tầng mặt và trong các dòng chảy, cột nước của biển hoặc cửa sông; trong trầm tích các hệ sinh thái.

Từ những mẫu vật thu thập trong quá trình nghiên cứu cho thấy, mật độ chất thải nhựa tại những bãi biển thuộc các khu bảo tồn ở Việt Nam trung bình 7.374 mảnh/100m và 94,58kg/100m. Sự phân bố chất thải nhựa có sự thay đổi theo mùa và theo vị trí địa lý khi số lượng rác nhựa thải ra đại dương trong mùa mưa cao hơn nhiều so với mùa khô; các bãi biển phía bắc có số lượng và khối lượng đều thấp hơn nhiều so với các bãi phía nam, đảo ven bờ lượng rác nhựa thấp hơn những đảo xa bờ…

Điều tra của Ngân hàng Thế giới năm 2022 cho thấy, những bãi biển thuộc các tỉnh ven biển Việt Nam có mật độ chất thải nhựa cũng cao, trung bình 8.100 mảnh/100m và không có sự thay đổi theo một quy luật nào. Cụ thể, tại Huế là 14.110 mảnh/100m; Thành phố Hồ Chí Minh 13.560 mảnh/100m; Hải Phòng là 3.623 mảnh/100m và Đà Nẵng (cũ) 2.790 mảnh/100m.

Nguồn gốc, hành vi, biến đổi, vận chuyển, lưu chuyển của rác thải đại dương được xác định do trôi dạt từ đất liền; từ hoạt động nuôi trồng thủy sản, sinh hoạt của con người và hoạt động du lịch trên biển.

Theo Thạc sĩ Phạm Minh Dương (Viện Khoa học khí tượng thủy văn, Môi trường và Biển), thành viên của một trong nhóm các nhà khoa học thực hiện đề tài về rác thải nhựa đại dương, nhóm nghiên cứu trên các mẫu vật thuộc hệ sinh thái biển, cho thấy ảnh hưởng đáng kể của chất vi nhựa.

Cụ thể là đối với 70% mẫu cá đục, cá chim tại vịnh Hạ Long có vi nhựa; trong mẫu cá rô phi có phơi nhiễm vi nhựa PE, PS. Những hoạt chất trong vi nhựa ảnh hưởng đến chỉ số gan, tăng trưởng và hoạt tính enzyme chống ô-xi hóa; vi nhựa tích tụ nhiều trong mô mềm nhuyễn thể, tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn thực phẩm. Kết quả khảo sát cũng cho thấy một số tổn thương mô gan, giảm tăng trưởng, biến đổi enzym sinh hóa trong phần lớn mẫu vật.

Kết quả thu được cho thấy tính khả thi trong việc thu thập, đánh giá nguồn gốc rác thải nhựa đại dương, từ đó nhóm nghiên cứu đề xuất: Nghiên cứu, xây dựng phương pháp tiêu chuẩn cho thu mẫu, phân tích và đánh giá; đánh giá tác động đối với hệ sinh thái và con người; nghiên cứu hành vi dịch chuyển, biến đổi của vật liệu nhựa; xây dựng hệ thống quan trắc, giám sát...

Đồng thời, nghiên cứu, ứng dụng vật liệu thay thế đồ nhựa; kiểm soát hiệu quả việc sản xuất, sử dụng, thu gom chất thải nhựa; đa dạng hóa phương pháp tái chế, tái sử dụng các sản phẩm từ nhựa ngay từ đất liền và các phương tiện nuôi trồng, đánh bắt thủy, hải sản trên biển.

Các chuyên gia nhấn mạnh đến việc cần tổ chức nghiên cứu, ứng dụng, đầu tư phát triển các mô hình nuôi biển tuần hoàn, tăng cường tái chế, tái sử dụng vật liệu và các sản phẩm thải trong quá trình nuôi biển...

Cùng với việc kiểm soát chặt chẽ nguồn phát sinh rác thải nhựa, giải pháp quan trọng là cần đầu tư phương tiện đầy đủ, hiện đại; ứng dụng khoa học kỹ thuật, nâng cao năng lực vận hành và ban hành cơ chế, chế tài phù hợp.

Có thể bạn quan tâm