Cách mạng Tháng Tám, bạo lực hay hòa bình ?

Cách mạng xã hội không đơn thuần là một cuộc chính biến. Nó không chỉ là sự thay đổi một thế lực cầm quyền này bằng một thế lực cầm quyền khác, trong khi chế độ chính trị xã hội vẫn giữ nguyên như cũ. Cách mạng là thay cũ đổi mới, nhưng cái mới đó phải là cái mới tiến bộ hơn; xã hội mới được hướng tới phải là nấc thang phát triển cao hơn trong tiến trình lịch sử so với xã hội cũ mà nó thay thế. Nếu ngược lại, đó là phản cách mạng hoặc ít ra cũng chỉ là cách mạng trên hình thức.

Bạo lực và hòa bình cũng có nhiều cách hiểu. Có bạo lực vũ trang và bạo lực chính trị. Có cách mạng đổ máu và cách mạng không đổ máu. Cách mạng hòa bình, theo nghĩa kinh điển, là cuộc cách mạng bằng các biện pháp hòa bình, không qua khởi nghĩa vũ trang mà vẫn lật đổ được chế độ cũ.

Những nhà mác-xít lê-nin-nít không phải lúc nào cũng loại trừ khả năng cách mạng hòa bình. Nhưng cho đến Cách mạng Tháng Tám năm 1945 của Việt Nam, thế giới chưa từng thấy một cuộc cách mạng nào, với ý nghĩa đích thực của nó, lại là cách mạng hòa bình mà giành được thắng lợi.

Cách mạng Tháng Tám là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ kiểu mới. Nó có nhiệm vụ đánh đổ ách thống trị thực dân phong kiến, giành độc lập cho Tổ quốc, tự do hạnh phúc cho nhân dân, đưa đất nước tiến lên theo con đường xã hội chủ nghĩa.

Một cuộc cách mạng như thế, theo lô-gíc thông thường, phải là một cuộc tổng khởi nghĩa quyết liệt, một cuộc chiến đấu đẫm máu, cho lực lượng cách mạng và cho cả các thế lực chống lại.

Kinh nghiệm cho thấy: Suốt 80 năm đô hộ nước ta, bọn cướp nước chưa hề nương nhẹ đối với bất cứ ai chống lại chúng. Hàng chục cuộc khởi nghĩa vũ trang và hàng trăm, hàng nghìn cuộc đấu tranh lớn nhỏ cho các quyền dân tộc, dân chủ và dân sinh đã bị dìm trong máu. Lấy bạo lực cách mạng để chống lại bạo lực của kẻ xâm lược là lẽ đương nhiên. Có điều, Ðảng ta hiểu bạo lực cách mạng không chỉ là bạo lực vũ trang mà còn có bạo lực chính trị. Ðấu tranh vũ trang kết hợp chặt chẽ với đấu tranh chính trị được coi như một quy luật, trong đó đấu tranh chính trị là gốc, làm nền cho đấu tranh vũ trang, và đấu tranh vũ trang đến lượt nó sẽ làm chỗ dựa vững chắc và thúc đẩy đấu tranh chính trị đến cao trào, tiến tới một cuộc tổng khởi nghĩa toàn diện.

Từ lúc cao trào cứu nước được phát động vào những năm 1940 - 1941 trở đi, nhất là sau khi Pháp đầu hàng Nhật, nước ta ngày càng tiến lên trong thế sục sôi cách mạng, chuẩn bị lực lượng cho thời cơ lớn. Một vùng căn cứ địa gồm sáu tỉnh Cao - Bắc - Lạng, Thái - Tuyên - Hà đã hình thành và ngày thêm mở rộng. Một đội quân giải phóng đã ra đời. Ðồng thời, khắp cả nước, cũng đã thành lập nhiều khu du kích nhỏ khác (như Ba Tơ ở Quảng Ngãi) và nhiều đội tự vệ vũ trang của quần chúng. Ðặc biệt là, với Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc, cách mạng nước ta đã tập hợp được một "đội quân chính trị" gồm hàng chục vạn, hàng triệu người sẵn sàng nổi dậy giành chính quyền. Một bất ngờ lớn cho kẻ địch là bên cạnh khu căn cứ địa Việt Bắc, còn có một khu căn cứ địa bí mật khác ở sát trung tâm chỉ huy của chúng - căn cứ địa Hà Nội, Phúc Yên, Bắc Ninh, Bắc Giang.

Tình thế của ta trước Tổng khởi nghĩa Tháng Tám là như vậy. Chính trong tình thế đó, mà đêm 13-8-1945, ngay sau khi được tin phát-xít Nhật đầu hàng đồng minh, Ủy ban khởi nghĩa do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã ra Quân lệnh số 1. Ngày 14, Tổng Bộ Việt Minh ra lời hiệu triệu. Cùng lúc đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến. Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy, đem sức ta mà tự giải phóng cho ta".

Một lời kêu gọi nhất hô thiên vạn ứng! Cả dân tộc đứng lên. Như trào dâng thác đổ, chỉ trong một tuần, cách mạng đã thành công trong cả nước: 19-8 ở Hà Nội; 23-8 ở Huế và 25-8 ở Sài Gòn. Khắp nông thôn và thành thị, rợp bóng sao vàng cờ đỏ. Bốn vạn quân Nhật được trang bị đến tận răng, từng kiêu hãnh vung gươm lên trời, chỉ biết có Thiên hoàng, nay hoang mang đến cực độ trước "thiên uy" của Việt Minh. Ta nói với họ: Không can thiệp vào công việc nội bộ của ta thì họ sẽ được bảo đảm an toàn, chờ ngày về nước. Chính phủ bù nhìn tay sai thì bơ vơ như con hoang giữa chợ, càng ngẫm càng đau về thân phận tôi đòi cho giặc. Ta kêu gọi lòng yêu nước và sẵn sàng chìa bàn tay thân ái đến bất cứ ai muốn đứng vào hàng ngũ nhân dân. Và điều dường như nghịch lý của lịch sử đã xảy ra: Vua Bảo Ðại bằng lòng trao ấn kiếm, thoái vị để "làm dân một nước độc lập hơn là làm vua một nước nô lệ". Các khâm sai đại thần ở Bắc Kỳ và Nam Kỳ, người thì giang tay đón tiếp Việt Minh, kẻ tự nhốt mình trong phòng ngủ để chờ thế cuộc xoay vần. Trong hàng ngũ chính quyền cũ, những ai có lòng yêu nước thương nòi đều ngả về phía cách mạng.

Cách mạng Tháng Tám đã diễn ra cơ bản là không đổ máu. Chữ "nếu" không dùng cho lịch sử. Nhưng để nghiên cứu, xin hãy thử tưởng tượng xem:

Nếu Ðảng ta không rút ra được những bài học từ thất bại của những cuộc khởi nghĩa trước đây, không có chủ trương kết hợp đúng đắn sức mạnh quân sự với sức mạnh chính trị, không xây dựng lực lượng vũ trang và các khu căn cứ địa, không tập hợp được đông đảo quần chúng nhân dân trong Mặt trận Việt Minh và các đoàn thể cứu quốc như đã làm, thì liệu cách mạng có nổ ra và thành công một cách nhanh chóng và không đổ máu không?

Nếu Tổng khởi nghĩa nổ ra trước hay sau một vài tuần thì điều gì sẽ xảy ra? Trước một vài tuần thì mấy vạn quân Nhật còn nguyên vẹn, với giấc mộng Ðại Ðông Á, liệu có chịu khoanh tay đứng nhìn? Sau một vài tuần thì quân đồng minh vào, quân Nhật ắt sẽ chuyển giao quyền lực - quân Tưởng ở phía Bắc và quân Anh ở phía Nam, cả hai đều có dã tâm ngăn chặn cách mạng Việt Nam thành công, liệu cách mạng có tránh được những tổn thất nặng nề không?

Cuối cùng, nếu trong Tổng khởi nghĩa, Ðảng ta không có sách lược vừa nguyên tắc vừa mềm dẻo đối với từng đối tượng của cách mạng thì ai có thể lường trước được sự phản kháng của họ sẽ đến mức nào. Với quân Nhật, nếu ta thừa cơ hội chúng đầu hàng đồng minh mà dồn vào bước đường cùng, không mở ra tia hy vọng được về nước an toàn thì liệu cái đội quân "con Trời" ấy có chịu chấp nhận điều kiện của ta mà đứng ngoài cuộc? Với triều đình Huế, nếu ta không mở lượng khoan dung thì đâu dễ có sự từ ngôi và từ quan êm ả? Với quân đồng minh, nếu tổng khởi nghĩa của ta không gọn ghẽ, ta không trở thành người chủ của một nước Việt Nam có chủ trước khi họ vào giải giáp quân Nhật, thì liệu họ còn tự tung tự tác đến bao nhiêu nữa?

Cắt nghĩa được những chữ "nếu" đó là hiểu được ý nghĩa sâu xa của một cuộc cách mạng không đổ máu mà thành công to; hiểu được tài nghệ lãnh đạo của đội tiên phong; hiểu được một cuộc cách mạng chuẩn bị chu đáo cả hai mặt vũ trang và chính trị, nhưng khi xung trận thì lực lượng chính trị của nhân dân nổi bật lên hàng đầu và có vai trò quyết định trực tiếp.

Phải chăng đó là một nét đẹp vĩ đại của một cuộc cách mạng vĩ đại?

          Tháng 8 năm 2010

Có thể bạn quan tâm