Bệnh viện 103 (Học viện Quân y) được biên chế 530 giường điều trị, nhưng hai năm nay phải kê lên hơn một nghìn giường nhằm đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh của quân và dân. Ðại tá, PGS, TS Lê Trung Hải, Phó Giám đốc Bệnh viện cho biết: Hằng tháng, đơn vị chúng tôi tiến hành trung bình hơn 800 ca mổ các loại, trong đó số mổ nội soi chiếm từ 40 đến 50%: Các khoa tiết niệu, phẫu thuật ổ bụng và lồng ngực là những khoa thường sử dụng PTNS. Bệnh viện 103 ứng dụng kỹ thuật mổ nội soi năm 1996 nhưng do hạn chế các yếu tố cơ sở vật chất, trang thiết bị cho nên sau năm 2000 đến nay mới từng bước phát triển. Nhờ sự đầu tư của Nhà nước và Bộ Quốc phòng, đến nay bệnh viện có tám giàn máy phục vụ cho PTNS và đã thực hiện được khoảng mười nghìn ca PTNS cho hàng chục loại bệnh khác nhau. Ðáng phấn khởi là gần đây, bệnh viện đã thành lập được đơn vị PTNS với 40 đến 50 bác sĩ tham gia kỹ thuật cao này ở các khoa. Ðại tá, Tiến sĩ Ðặng Việt Dũng, Chủ nhiệm Khoa B2 (phẫu thuật ổ bụng) trao đổi với chúng tôi: Khoa có mười bác sĩ, người được đi đào tạo ở nước ngoài, người học ở trong nước, mức độ tay nghề không giống nhau, nhưng phần lớn đều thực hiện được phương pháp PTNS. Từ các loại mổ thường quy cắt ruột thừa, cắt dạ dày, túi mật, thoát vị bẹn, đến các bệnh lý phức tạp như cắt đại tràng, trực tràng, cắt thực quản... Năm 2007, khoa tiến hành 1.600 ca mổ các loại, trong đó có hơn 670 trường hợp thực hiện bằng mổ nội soi. Gần đây, tháng 5-2009, các cán bộ trong khoa mổ hơn 150 trường hợp thì số ứng dụng PTNS là 70 ca. Cũng do đặc thù chuyên môn, B2 là một trong những khoa của Bệnh viện 103 có đội ngũ PTNS khá đồng đều với những tay dao có kinh nghiệm như các Tiến sĩ Lê Thanh Sơn, Ðặng Việt Dũng, Bùi Tuấn Anh, Nguyễn Văn Xuyên...
PTNS cho trẻ em được chuyển giao vào nước ta hơi muộn, với ca mổ phình đại tràng đầu tiên cho một cháu nhỏ (cuối năm 1997) do PGS, TS Nguyễn Thanh Liêm thực hiện tại Bệnh viện Nhi T.Ư. Từ những năm 1993, 1994, đã có một số ít người, trong đó có PGS Liêm được cử đi học phương pháp PTNS ở nước ngoài. Nhưng sau khi về nước, do điều kiện khó khăn máy móc, thiết bị nên việc triển khai PTNS cho các bệnh lý ở trẻ em có phần chậm trễ. Từ năm 2002, nhờ mua sắm được hai dàn máy hiện đại, "tần suất" mổ nội soi cho các cháu nhỏ tăng lên; đến thời điểm này, Bệnh viện Nhi T.Ư đã xử lý được hơn 30 loại bệnh bằng phương pháp PTNS. Riêng PGS, TS Nguyễn Thanh Liêm, Anh hùng Lao động, Giám đốc bệnh viện, là người có đóng góp đáng kể vào lĩnh vực ghép tạng, mổ tim hở và nhất là PTNS các bệnh lý phức tạp cho trẻ em. Chẳng hạn phương pháp mổ thoát vị cơ hoành ở trẻ sơ sinh bằng nội soi lồng ngực. Ðây là trường hợp ít gặp trên thế giới, vì trẻ đang trong tình trạng thở máy cao tần, khiến lồng ngực rung lên liên tục nhưng PGS Liêm (người đầu tiên) đã thực hiện ca mổ an toàn. Hoặc bệnh viêm mủ màng ngoài tim, bệnh u nang ống mật chủ, thông thường người ta áp dụng phương pháp mổ mở kinh điển, nhưng ông đã mạnh dạn PTNS thành công. Gần đây, nhân dự hội nghị quốc tế ở Ðài Loan (Trung Quốc), PGS Liêm đã thực hiện ca mổ nội soi hiếm thấy: Cắt gần hết tụy để điều trị cường In-su-lin cho một cháu nhỏ. Cũng vì vậy, những kiểu mổ phức tạp, ít gặp của ông đã được hàng chục tờ báo, tạp chí chuyên ngành có uy tín nước ngoài (trong đó có tạp chí Phẫu thuật nội soi quốc tế) đăng tải...
PTNS xuất hiện đầu tiên ở Pháp vào giữa những năm 80 của thế kỷ trước. Với những ưu việt: Vết mổ đẹp, hạn chế chảy máu, nhiễm trùng, thời gian hồi phục nhanh; rút ngắn thời gian điều trị cho người bệnh (chỉ ba, bốn ngày sau ra viện)... Dĩ nhiên, vì là kỹ thuật cao, cho nên chi phí cho một ca mổ nội soi khá lớn (đơn giản như cắt ruột thừa ba triệu đồng/ca, phức tạp hơn như cắt đại tràng, trực tràng từ 8 đến 10 triệu đồng/ca). Cách đây năm, bảy năm về trước, PTNS còn là chuyện hiếm, bây giờ phần lớn bệnh viện tuyến T.Ư, bệnh viện ngành và cả một số bệnh viện tỉnh ở nước ta cũng đã triển khai PTNS. Tuy nhiên, không ít nơi do thiếu trang thiết bị, công tác đào tạo thiếu bài bản nên việc triển khai PTNS còn khó khăn. Một số cơ sở y tế lớn sử dụng PTNS như một kỹ thuật thường quy, song cũng do trang thiết bị chắp vá, lại hạn chế cập nhật thông tin, bởi vậy mới dừng lại ở vài loại bệnh đơn lẻ. Tại Bệnh viên Nhi T.Ư, theo Giám đốc Nguyễn Thanh Liêm, đang có dự định thành lập Trung tâm PTNS Nhi khoa, nhằm làm tốt hơn công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏe bệnh nhi. Nhưng do hạ tầng kỹ thuật còn thiếu đồng bộ (trang thiết bị cho PTNS khá đắt), mặt khác, công tác đào tạo nhân lực chuyên ngành còn hạn chế nên chưa thể thực hiện trong một tương lai gần. Chi phí cho một ca mổ nội soi khá cao, cho nên cần có chính sách chi trả BHYT thích hợp để những người nghèo, đối tượng có hoàn cảnh khó khăn đặc biệt được tiếp cận và thụ hưởng các dịch vụ y tế có chất lượng...
Nguyễn Khôi