Quy hoạch phát triển chè
Thôn Phìn Hồ cách trung tâm xã Thông Nguyên, huyện Hoàng Su Phì (Hà Giang) chừng 7 km, đi lên chót vót núi cao với bạt ngàn cây chè Shan tuyết cổ thụ, sum suê. Mời khách chén chè nóng có mùi thơm rất đặc trưng, vị đậm, nước xanh, ông Lý Chòi Quyên cho biết: Với 2,5 ha chè của gia đình, năm qua, sơ chế sau hái được ba tạ, bán cho HTX Phìn Hồ Trà được 30 triệu đồng. Cả thôn đều là xã viên của HTX Phìn Hồ Trà, nhiều hộ thu 50 đến 70 triệu đồng/năm. Theo Trưởng thôn Lý Chòi Phấu, cây chè Shan tuyết có từ hàng trăm năm nay, được thiên nhiên ưu đãi, cho nên không cần bón phân và thuốc trừ sâu, chỉ phát cỏ rồi tới vụ là thu hoạch. Sau khi được cán bộ tuyên truyền, hướng dẫn, tập huấn kỹ thuật, bà con đã chủ động mở rộng diện tích, trồng mới hàng trăm ha chè. Kết hợp chăn nuôi và tham gia làm du lịch sinh thái cộng đồng, đến nay, hầu hết các gia đình đã mua đất, cất nhà ở trung tâm xã, để thuận lợi cho con cháu học hành, từ cấp một đến hết cấp ba. Thôn còn 2 trong tổng số 46 hộ nghèo, do mới tách ở riêng.
Anh Vương Tuấn, cán bộ Phòng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn huyện Hoàng Su Phì cho biết, chè là cây công nghiệp truyền thống, có giá trị kinh tế cao của huyện. Tuy nhiên, phần lớn diện tích chè không tập trung, việc canh tác, chăm sóc, thu hái của người dân trước đây chưa đúng kỹ thuật; phần lớn cơ sở chế biến quy mô nhỏ, thiết bị máy móc lạc hậu, chưa quy hoạch được vùng nguyên liệu, chưa có sự gắn kết trong sản xuất, chế biến, tiêu thụ, xây dựng thương hiệu; giao thông khó khăn, cho nên năng suất và sản lượng, chất lượng chè chưa cao, thị trường tiêu thụ không ổn định. Với quyết tâm đưa cây chè thật sự trở thành cây chủ lực, “mũi nhọn”, cây làm giàu trong phát triển kinh tế, huyện Hoàng Su Phì đã ban hành và tập trung nguồn lực để thực hiện Đề án quy hoạch phát triển chè đến năm 2020. Cùng với thực hiện hỗ trợ trồng mới, trồng dặm chè đối với bà con các xã; mở thêm các tuyến giao thông huyết mạch, huyện khuyến khích, hỗ trợ các cơ sở chế biến chuyển đổi công nghệ, cải tiến mẫu mã hàng hóa, xây dựng thương hiệu, tìm kiếm thị trường, thành lập công ty cổ phần có sự tham gia của người sản xuất nguyên liệu để tạo liên kết trong chuỗi sản xuất, nâng cao chất lượng sản phẩm. Chủ nhiệm HTX Phìn Hồ Trà cho rằng, từ khi được huyện hỗ trợ san ủi mặt bằng để có địa điểm rộng hơn, rồi điện, nước đến tận xưởng, hoạt động sản xuất của HTX ngày một thuận lợi. Nhờ địa phương làm tốt công tác tuyên truyền, tập huấn của địa phương, cho nên kỹ thuật trồng, chăm sóc, hái chè và bảo quản sau thu hoạch của bà con được nâng lên rõ rệt, không có hộ sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất sau sơ chế, góp phần để HTX bảo đảm hoạt động sản xuất, giữ vững thương hiệu, uy tín với bạn hàng trong và ngoài nước. Huyện Hoàng Su Phì hiện có 3.200 ha trong tổng số hơn 4.500 ha chè đang cho sản phẩm. Năm 2015, nhân dân các xã thu hoạch được 13.000 tấn chè búp tươi, tổng giá trị sau khi bán được hơn 90 tỷ đồng. Thực tế ở Hoàng Su Phì cho thấy, thu nhập từ sản xuất chè đã và đang góp phần xóa đói, giảm nghèo, cải thiện đời sống mọi mặt của đồng bào vùng cao, hạn chế xói mòn, giữ nước, phủ xanh đất trống đồi núi trọc và bảo vệ môi trường.
Gắn phát triển chăn nuôi với kinh tế hộ
Một lợi thế khác giàu tiềm năng và cũng là lợi thế của Hoàng Su Phì được cả hệ thống chính trị và nhân dân các xã đồng thuận tập trung thực hiện, là phát triển chăn nuôi theo hướng hàng hóa gắn với phát triển kinh tế hộ, thực hiện chuyển đổi cơ cấu kinh tế nông nghiệp và nông thôn, Bí thư Huyện ủy Hoàng Su Phì Hoàng Hải Lý cho biết: Cùng với chính sách đầu tư có thu hồi để tái đầu tư nhằm giúp hộ nghèo vươn lên, huyện thực hiện hỗ trợ 20 triệu đồng đến 100 triệu đồng cho mỗi hộ đủ điều kiện chăn nuôi và có nhu cầu để mua bổ sung trâu, bò, ngựa, dê với thời hạn hai đến ba năm; hỗ trợ các hộ mở rộng chuồng trại và diện tích trồng cỏ voi. Sau chu kỳ nuôi, các hộ có thể xuất bán toàn bộ, hạch toán lợi nhuận, rồi tiếp tục mua đàn khác về nuôi. Trước khi và trong thời gian nuôi, các hộ đều được tập huấn về kỹ thuật chăn nuôi, tiêm phòng, phát hiện và điều trị một số bệnh thường gặp trên gia súc. Theo UBND huyện Hoàng Su Phì, toàn huyện hiện có 21.500 con trâu, gần 5.400 con bò, 70.000 con lợn, 23.000 con dê và hơn 300 con ngựa.
Xã Bản Luốc có 453 gia đình hầu hết là đồng bào dân tộc thiểu số, đời sống mọi mặt còn nhiều khó khăn, thu nhập bình quân mới đạt chín triệu đồng/người/năm. Chăn nuôi vốn không xa lạ với người dân Bản Luốc nhưng là chăn nuôi nhỏ lẻ, thả rông, chưa cho gia súc ăn thức ăn tinh bổ sung, chưa tiêm phòng đầy đủ các loại vắc-xin… Thực hiện nghị quyết của Huyện ủy Hoàng Su Phì về phát triển chăn nuôi gia súc theo hướng hàng hóa gắn với phát triển kinh tế gia đình, từng cán bộ, đảng viên ở đây đã tiên phong tham gia nhiều mô hình điểm. Cán bộ phụ trách địa chính, khuyến nông Đặng Văn Điền đã vay vốn để trồng 1,5 ha cỏ và nuôi bốn con bò sinh sản. Sau chín tháng, bò đẻ được hai con bê. Anh Điền cho biết, tới đây anh sẽ tính chuyển bò mẹ cho hộ nghèo và hướng dẫn cách nuôi, khi bò đẻ, thì hộ đó được bê, còn bò mẹ thì chuyển sang cho hộ khác nuôi. Ông Lý Văn Dín ở thôn Tân Bình có 11 con trâu, 10 con lợn, là điển hình về phát triển chăn nuôi gia súc, vươn lên thoát nghèo của xã Bản Luốc. “Nắm được kỹ thuật thì thấy nuôi bò, nuôi lợn không khó, vật nuôi ít mắc bệnh, có thêm sức kéo, tận dụng được phân bón để phục vụ sản xuất nông nghiệp, mùa màng không bị phá hoại. Tôi dự kiến tới đây nếu nuôi ba con ngựa, sau hai năm, trừ chi phí giống và thức ăn, tôi sẽ thu lãi 25 triệu đồng”, ông Dín chia sẻ với chúng tôi.