Báo động tình trạng vi phạm pháp luật về an toàn lao động

Bài 2: Nhiều bất cập trong công tác quản lý, xử lý vi phạm

Trong khi mỗi năm có tới hơn 500 vụ tai nạn lao động (TNLĐ) làm hơn 600 người chết, nhưng số vụ TNLĐ bị khởi tố rất ít, chỉ chiếm 2% tổng số vụ tai nạn. Trung bình mỗi năm chỉ có khoảng 0,22% số doanh nghiệp đang hoạt động được thanh tra pháp luật về lao động và an toàn, vệ sinh lao động.

Người lao động làm việc tại một xưởng gỗ ở xã Lương Thịnh (Trấn Yên, Yên Bái) thiếu các trang bị bảo hộ lao động.
Người lao động làm việc tại một xưởng gỗ ở xã Lương Thịnh (Trấn Yên, Yên Bái) thiếu các trang bị bảo hộ lao động.

Bất cập trong công tác tổ chức, quản lý

Theo quy định của Bộ luật Lao động thì chức năng thanh tra nhà nước về an toàn, vệ sinh lao động (AT,VSLĐ) do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội (LĐ - TB và XH) và sở trực thuộc tại các địa phương thực hiện. Tìm hiểu, chúng tôi được biết, hiện nay Bộ LĐ-TB và XH có một phòng thanh tra AT, VSLĐ trực thuộc Thanh tra Bộ. Ở các Sở LĐ-TB và XH, mỗi đơn vị chỉ có từ một đến ba thanh tra viên AT,VSLĐ nằm trong Thanh tra Sở, thậm chí có địa phương chỉ có một hoặc hai thanh tra viên, lại phải kiêm nhiệm các công tác khác như giải quyết khiếu nại, tố cáo, thanh tra chính sách xã hội. Tính chung cả nước, hiện chỉ có khoảng 150 thanh tra viên AT,VSLĐ. Với cơ cấu tổ chức, số lượng thanh tra viên như vậy mà đối tượng phải thanh tra là hàng trăm nghìn doanh nghiệp, chưa kể các cơ sở sản xuất trong làng nghề, trong lĩnh vực nông nghiệp thì đúng là bất cập.

Do đối tượng thanh tra quá lớn, lực lượng thanh tra viên lại quá mỏng, cho nên mỗi năm, thanh tra toàn ngành LĐ-TB và XH chỉ tiến hành thanh tra pháp luật lao động và AT,VSLĐ được khoảng 5.600/525.000 doanh nghiệp (chiếm 0,22% tổng số doanh nghiệp). Có những doanh nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động hơn 10 năm nhưng chưa một lần có đoàn nào đến thanh tra, kiểm tra về công tác AT,VSLĐ. Tình trạng doanh nghiệp hoạt động thường xuyên vi phạm quy định về AT,VSLĐ, nhưng chưa lần nào bị xử phạt vi phạm; nhiều vụ TNLĐ, người sử dụng lao động tự thỏa thuận với gia đình người bị nạn, giấu giếm thông tin, không khai báo, mà cơ quan chức năng hoàn toàn không biết khá phổ biến.

Cho đến nay, cả nước vẫn chưa có trường hoặc ngành học đào tạo thanh tra viên AT,VSLĐ. Các thanh tra viên AT,VSLĐ hiện thời chủ yếu được tuyển chọn từ những người đã tốt nghiệp các trường đại học kỹ thuật và đại học y. Trình độ chuyên môn, kỹ năng thanh tra của thanh tra viên còn nhiều hạn chế, đã ảnh hưởng không nhỏ hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra. Đây cũng chính là nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm quy định về AT,VSLĐ diễn ra tràn lan, dù các văn bản pháp luật về lĩnh vực an toàn lao động (ATLĐ) hiện nay đã khá đầy đủ, nhất là từ khi Luật AT, VSLĐ có hiệu lực thi hành.

Điều tra, xử lý chậm, chưa đủ tính răn đe

Vụ TNLĐ nghiêm trọng do rơi thang vận làm ba công nhân tử vong tại công trình xây dựng tòa CT10, khu đô thị Đại Thanh, xã Tả Thanh Oai (Thanh Trì, Hà Nội) xảy ra vào sáng 20-5-2013, đến nay đã hơn ba năm nhưng các cơ quan chức năng vẫn chưa có kết luận chính thức. Trả lời câu hỏi vì sao có sự chậm trễ này, Phó chánh Thanh tra Sở LĐ-TB và XH Hà Nội Phan Văn Mậu cho biết: “Cho đến nay, Đoàn điều tra tai nạn lao động TP Hà Nội vẫn chưa nhận được quyết định khởi tố vụ án hoặc không khởi tố vụ án của cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Trì (Hà Nội) về vụ TNLĐ xảy ra tại công trình xây dựng tòa CT10, khu đô thị Đại Thanh, để tiến hành các công việc tiếp theo thuộc phạm vi trách nhiệm, quyền hạn của mình”. Vụ TNLĐ do rơi vận thăng lồng làm ba công nhân chết, xảy ra từ ngày 4-12-2015, tại công trình xây dựng Văn phòng làm việc, Trung tâm thương mại và nhà ở hỗn hợp, địa chỉ số 52 đường Lĩnh Nam, phường Mai Động (Hoàng Mai, Hà Nội), nhưng phải đến tám tháng sau, ngày 5-8-2016, các cơ quan chức năng mới có kết luận chính thức.

Công tác điều tra TNLĐ không chỉ chậm trễ, kéo dài, mà việc xử lý các vụ TNLĐ cũng chậm, chưa đúng tính chất, mức độ vi phạm. Trong năm vụ TNLĐ bị khởi tố năm 2015 chỉ có một vụ được đưa ra xét xử. Thành phố Hà Nội nhiều năm qua chưa khởi tố được vụ TNLĐ nào.

Dư luận đã nhiều lần đặt câu hỏi: Vì sao số vụ TNLĐ nghiêm trọng gây chết người nhiều như vậy mà số vụ, số người sử dụng lao động bị truy cứu trách nhiệm hình sự lại quá ít, trong khi nguyên nhân chính của các vụ TNLĐ nghiêm trọng đều bắt nguồn từ sự coi thường pháp luật về AT,VSLĐ của các chủ doanh nghiệp, chủ sử dụng lao động? Trong khi ai cũng biết việc điều tra bảo đảm đúng thời hạn, xử lý nghiêm, dứt điểm các vụ TNLĐ không chỉ để kịp thời giải quyết chế độ cho người bị nạn, mà còn góp phần quan trọng ngăn chặn tình trạng vi phạm AT, VSLĐ.

Đề cao các giải pháp phòng ngừa

Hiện nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã đề cập vấn đề không tai nạn trong lao động. Ở Phần Lan, từ cuối năm 2003 đã khởi động một diễn đàn “không tai nạn” nhằm giới thiệu những bài học thành công trong việc phòng tránh TNLĐ. Nhật Bản cũng từng là quốc gia có số người bị TNLĐ rất lớn. Nhưng thực trạng này đã thay đổi từ khi Chính phủ Nhật Bản phát động phong trào “không tai nạn” vào năm 1973. Theo một nghiên cứu của Nhật Bản, 93,8% vụ TNLĐ xảy ra do hành vi không an toàn; 87,7% số vụ TNLĐ xảy ra vì điều kiện không an toàn; 82,6% số vụ TNLĐ xảy ra do cả hai nguyên nhân trên. Như vậy, TNLĐ có thể được giảm thiểu ở mức thấp nhất nếu kiểm soát tốt các yếu tố chủ quan từ con người như hành vi và điều kiện làm việc.

Dựa trên kết quả phân tích này, Trưởng phòng An toàn lao động (Sở LĐ-TB và XH thành phố Hà Nội) Bạch Quốc Việt cho rằng: Việc đầu tiên là phải nâng cao ý thức của người sử dụng lao động và người lao động trong việc tuân thủ các quy định, quy chuẩn về AT,VSLĐ. Công tác huấn luyện AT,VSLĐ cho người sử dụng lao động và người lao động phải làm thường xuyên, nghiêm túc, thực chất để họ nắm vững các quy định về AT,VSLĐ.

Công ty xi-măng Nghi Sơn (Thanh Hóa) là một đơn vị liên doanh với Nhật Bản. Bên cạnh việc tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật, thời gian qua công ty đã áp dụng hiệu quả phương pháp KY của Nhật Bản để phòng ngừa TNLĐ. Phương pháp KY nghĩa là “dự đoán các tình huống nguy hiểm” được phát triển và phổ biến bởi Hiệp hội An toàn và vệ sinh lao động công nghiệp Nhật Bản. Phương pháp này đã góp phần quan trọng làm giảm tỷ lệ TNLĐ ở Nhật Bản từ 6.712 người chết (năm 1961) xuống còn 1.514 người chết (năm 2005). Điều đáng chú ý ở phương pháp KY là mỗi khi thực hiện bất kỳ công việc gì, các nhóm làm việc đều phải thực hiện một bảng phân tích KY. Đầu tiên, cả nhóm họp lại để cùng nhau phân tích các tình huống nguy hiểm tiềm tàng, tìm ra nguyên nhân và sau đó đề xuất giải pháp. Tất cả các ý kiến dù nhỏ nhất đều được viết vào một bảng KY và đọc to cho mọi người cùng nghe. Tờ giấy này sau đó được treo ngay tại vị trí làm việc để nhắc nhở.

Việc áp dụng thành công phương pháp KY của Nhật Bản tại Công ty xi-măng Nghi Sơn rất đáng để các doanh nghiệp học hỏi, ứng dụng. Bởi chủ quan chính là nguyên nhân lớn nhất dẫn tới TNLĐ. Chỉ khi nào việc tuân thủ các quy định về bảo đảm AT,VSLĐ trở thành thói quen, kỹ năng làm việc, hành vi văn hóa trong doanh nghiệp thì khi đó công tác an toàn lao động mới được bảo đảm.

Theo Phó Cục trưởng An toàn lao động (Bộ LĐ-TB và XH) Bùi Đức Nhưỡng, trong những năm tới, tình hình TNLĐ có xu hướng tăng mạnh dưới tác động của các nhân tố: Sự phát triển mạnh của các doanh nghiệp vừa và nhỏ với trình độ công nghệ còn lạc hậu và không chú ý đến ATLĐ, vệ sinh môi trường. Việc nhập khẩu và đưa vào sử dụng các máy, công nghệ, vật liệu mới, ngoài những mặt tích cực, còn tiềm ẩn những nguy cơ về ATLĐ. Lực lượng lao động tăng nhanh cùng với sự chuyển dịch của một lượng lớn lao động từ khu vực nông nghiệp sang khu vực công nghiệp với trình độ tay nghề thấp, chưa có tác phong công nghiệp làm tăng nguy cơ xảy ra TNLĐ.

Để giảm thiểu TNLĐ, theo Phó Trưởng ban Pháp luật (Liên đoàn Lao động TP Hà Nội) Tạ Văn Dưỡng, ngoài ý thức tự bảo vệ, chấp hành kỷ luật, quy trình lao động của người lao động, việc tuân thủ quy định pháp luật AT,VSLĐ của người sử dụng lao động thì vẫn rất cần sự vào cuộc của các ngành, các cấp, sự phối hợp chặt chẽ trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm các quy định pháp luật về AT,VSLĐ. Điều tra xử lý kịp thời, nghiêm minh các đơn vị, cá nhân, nhất là người sử dụng người lao động để xảy ra TNLĐ.

Vấn đề bảo đảm môi trường làm việc an toàn cho người lao động cần được ưu tiên hàng đầu. Điều quan trọng là, các cơ quan chức năng cần xây dựng chiến lược phòng ngừa một cách hiệu quả, lấy văn hóa phòng ngừa là quan trọng, chứ không phải chạy theo khắc phục hậu quả.

(*) Xem Báo Nhân Dân từ số ra ngày 24-8-2016.

Thời gian qua, số vụ TNLĐ nghiêm trọng bị đề nghị khởi tố chiếm tỷ lệ rất nhỏ, chỉ từ 3 đến 4%, và chỉ có 2% số vụ đưa ra xét xử. Đơn cử, năm 2015, cả nước xảy ra 7.620 vụ TNLĐ làm 7.785 người bị nạn, trong đó có 629 vụ tai nạn làm chết 666 người nhưng chỉ có năm vụ bị đề nghị khởi tố, trong đó có một vụ đã xét xử.

Có thể bạn quan tâm