<p>Phát triển cây chè ở vùng trung du và miền núi phía Bắc</p>

Bài 1:Những vùng chè nổi tiếng

Với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu phù hợp, vùng trung du và miền núi phía bắc từ lâu đã nổi tiếng với những vùng chè bạt ngàn xanh. Từ các loại chè truyền thống cho đến chè mới xây dựng thương hiệu như chè Ô Long, Vân Long, Kim Tuyên, Bát Tiên... đều có tiếng từ những vùng đất này.

Thái Nguyên "đệ nhất danh trà"

Với diện tích gần 20 nghìn ha, Thái Nguyên là một trong những tỉnh đứng đầu cả nước về diện tích canh tác, số lượng, chất lượng sản phẩm từ cây chè. Tại hầu hết các vùng chè của tỉnh, từ nhiều năm nay  người dân đã tự tạo dựng cho mình thương hiệu mạnh "chè Thái" thông qua chất lượng và độ an toàn thực phẩm cao. Tại vùng chè Tân Cương, sản phẩm chè búp sao thô của một số hộ gia đình luôn được tư thương săn đón với mức giá đắt gấp nhiều lần so các nơi khác. Vào thời điểm hiện tại, giá mua buôn ở mức hơn 500 nghìn đồng/kg. Ðể đạt được mức giá như vậy, người làm chè Tân Cương đã bỏ ra rất nhiều công sức để xây dựng chất lượng chè xứng với danh tiếng "đệ nhất trà". Câu lạc bộ chè hữu cơ Tân Cương (xóm Nam Thái, xã Tân Cương, TP Thái Nguyên) là đơn vị đầu tiên của cả nước được Tổ chức Hữu cơ quốc tế IFOAM và Tổ chức ICEA (I-ta-li-a) cấp Giấy chứng nhận sản phẩm chè sạch theo tiêu chuẩn châu Âu. Chủ nhiệm CLB chè hữu cơ Tân Cương Nguyễn Văn Kim cho biết, CLB thành lập năm 2005 với 16 hộ tham gia, diện tích chè trồng thử nghiệm gồm 1,5 ha. Phương thức canh tác được thay đổi, chuyển từ sản xuất truyền thống sang sản xuất hữu cơ, không sử dụng bất cứ loại hóa chất nào trong suốt quá trình trồng, chăm bón và chế biến. Ðược công nhận làng nghề truyền thống, người làm chè ở xóm Bãi Hu, xã Phúc Thuận, huyện Phổ Yên đặc biệt quan tâm làm chè "sạch", đưa phân vi sinh vào chăm bón chè thay cho phân hóa học. Mới đây, Trường ÐH Nông lâm Thái Nguyên phối hợp Sở Khoa học và Công nghệ tỉnh đã trao chứng nhận Global Gap cho sản phẩm chè sản xuất tại xã Phúc Thuận. Ðây là một trong những tấm giấy thông hành để sản phẩm chè của Phúc Thuận nói riêng, chè Thái Nguyên nói chung tiếp tục thâm nhập sâu vào các thị trường khó tính như EU, Mỹ, Nhật Bản,... Chủ nhiệm Hợp tác xã chè La Bằng, Phó Chủ tịch Hội Nông dân xã La Bằng (huyện Ðại Từ) Nguyễn Thị Hải cho biết, cuối những năm 90 thế kỷ trước, địa phương đã mạnh dạn trồng thử nghiệm nhiều giống chè nhập nội có  ưu điểm vượt trội như: chè Long Vân, Keo Am Tích, Phúc Văn Tiên, Kim Tuyên, Bát Tiên, IR777... Sản phẩm "chè cành" (chè giống mới trồng bằng cành thay vì trồng bằng hạt như trước đây) được người tiêu dùng ưa chuộng ngay từ khi bắt đầu có mặt trên thị trường do hương vị thơm ngon của nó. Cuối năm 2006, các hộ trồng chè tại La Bằng đã thành lập HTX La Bằng, hướng tới sản phẩm chè an toàn, chất lượng cao. Hiện nay, La Bằng có gần 300 ha chè cho thu hoạch, sản lượng hằng năm hơn 700 tấn búp khô. Tháng 10-2008, chè La Bằng đã được Cục Sở hữu trí tuệ cấp chứng nhận bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa. Hiện sản phẩm chè búp khô được bảo quản ép chân không, tiêu thụ với mức giá hơn 300 nghìn đồng/kg.

Yên Bái và thương hiệu chè shan tuyết  Suối Giàng

Chè shan tuyết Suối Giàng là một đặc sản của tỉnh Yên Bái, không chỉ được biết đến ở Việt Nam, mà còn ở nhiều quốc gia trên thế giới. Xã Suối Giàng thuộc huyện Văn Chấn, nằm ở độ cao từ 1.500 đến 1.800 m so với mực nước biển, khí hậu ôn hòa. Chè  shan tuyết đã có mặt ở Suối Giàng - Văn Chấn từ lâu. Hiện nay, toàn xã có hàng chục nghìn cây chè cổ thụ hơn 100 tuổi, có cây đến 300 năm tuổi và là một trong những cây chè lâu năm nhất của thế giới còn sót lại. Theo tư liệu từ sổ lưu niệm của khu du lịch Suối Giàng, vào những năm 60 của thế kỷ 20, Viện sĩ K.M.Giem-mu-khat-de thuộc Viện Sinh hóa A.Ba Cu (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô) khi đến Suối Giàng đã phải thốt lên: "Tôi đã đi qua 120 nước có cây chè trên thế giới nhưng chưa thấy ở đâu có cây chè lâu năm như ở Suối Giàng. Chè ở đây độc đáo, trong bát nước chè xanh có đủ 18 vị đầu đẳng của chè trên thế giới". Theo thống kê sơ bộ, hiện Việt Nam có khoảng 40 nghìn ha chè shan tuyết, chiếm 30% diện tích chè cả nước, tập trung ở vùng núi cao phía bắc như: Hà Giang, Yên Bái, Sơn La, Lào Cai, Lai Châu, Phú Thọ... Nhưng xã Suối Giàng được coi là nơi cho hương vị chè shan tuyết thơm ngon đặc trưng nhất. Hơn thế, chè shan tuyết chính là cây trồng mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho người dân nơi đây. Tỉnh Yên Bái hiện có hơn ba nghìn ha chè shan tuyết, cho sản lượng 75 nghìn tấn búp tươi mỗi năm, phần lớn được dành để xuất khẩu. Cũng như Yên Bái, tỉnh Lào Cai đặc biệt quan tâm việc phát triển cây chè. Toàn tỉnh hiện có 3.630 ha chè (đứng thứ 6/18 tỉnh trong cả nước về diện tích chè), phân bố ở 8/9 huyện, thành phố; năng suất bình quân đạt 4,5 tấn/ha, đạt sản lượng hơn 12 nghìn tấn búp tươi/năm. Tỉnh có bảy cơ sở chế biến chè có công suất 100 tấn búp tươi/ngày, 300 lò sơ chế chè mi-ni của hộ gia đình. Công ty TNHH một thành viên chè Thanh Bình, huyện Mường Khương, với nhà máy có công suất chế biến 30 tấn chè búp tươi/ngày, vụ chè năm 2010, thu mua được 2.500 tấn chè búp tươi, chế biến, xuất khẩu được 545 tấn chè khô sang các nước: Pa-ki-xtan, I-ran, Các Tiểu vương quốc Ả rập thống nhất..., đạt doanh thu hơn 25 tỷ đồng, bảo đảm thu nhập bình quân cho 142 cán bộ, công nhân viên với mức thu nhập 3,5 triệu đồng/người/tháng. Từ đầu năm đến nay, công ty đã ứng trước gần ba tỷ đồng tiền vật tư cho nông dân chăm sóc diện tích chè hiện có, đồng thời thu mua toàn bộ sản lượng chè thu hoạch, với giá bình quân hơn 5.000 đồng/kg nên nông dân yên tâm thâm canh chè, bảo đảm chất lượng VSATTP bán cho đơn vị. Ðể mở rộng diện tích, nâng cao sản lượng và chất lượng chè, tỉnh Lào Cai đã có đề án về quy hoạch, phát triển cây chè đến năm 2015. Theo đó, tỉnh đầu tư 216 tỷ đồng để hỗ trợ nông dân trồng mới 1.000 ha; tổ chức thâm canh, ứng dụng khoa học - kỹ thuật sản xuất chè sạch theo chương trình Viet GAP, đầu tư thêm bốn dây chuyền chế biến chè công nghệ cao để tạo ra sản phẩm chè Ô Long chất lượng tốt, giá bán cao. Mục tiêu nhằm nâng giá trị thu nhập của người trồng chè từ 20 triệu đồng/ha lên 40 triệu đồng/ha; thu nhập của người dân từ bán nguyên liệu đạt 140 tỷ đồng; doanh thu sau chế biến đạt giá trị khoảng 300 tỷ đồng/năm; tạo ra sản phẩm chè chất lượng cao, có thương hiệu đủ sức cạnh tranh thị trường trong nước và xuất khẩu.

Thương hiệu chè Tuyên Quang

Tỉnh Tuyên Quang hiện có 7.912 ha chè tập trung ở các huyện Sơn Dương, Yên Sơn và Hàm Yên. Trong đó, có 6.957 ha chè kinh doanh cho thu hái sản phẩm, năng suất chè búp tươi năm 2010 đạt 77,1 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 51.307 tấn. Sáu tháng đầu năm 2011, năng suất đạt 25,1 tạ/ha, sản lượng chè búp tươi đạt 17.463 tấn. Hiện toàn tỉnh có 18 cơ sở chế biến chè, với quy mô công suất từ bốn tấn đến 75 tấn/ngày. Tổng năng lực công suất chế biến của 18 cơ sở này khoảng 280 tấn nguyên liệu/ngày, tương đương khoảng 47 nghìn tấn nguyên liệu/năm, ngoài ra là các cơ sở chế biến tư nhân công suất nhỏ có quy mô hộ gia đình. Ðể phát triển cây chè, những năm qua, tỉnh Tuyên Quang đã ban hành nhiều cơ chế, chính sách. Triển khai thực hiện quy chuẩn kỹ thuật quốc gia tới 18 cơ sở chế biến chè trên địa bàn tỉnh và các huyện thành phố để thực hiện. Tổng Giám đốc Công ty cổ phần chè Sông Lô Ngô Ðức Tú cho biết, tháng 2-2010, công ty tiến hành cổ phần hóa. Một trong những biện pháp đầu tiên của doanh nghiệp là tiến hành cải tạo, thâm canh vườn chè, công ty đã tập trung triển khai các biện pháp chỉ đạo không sử dụng thuốc trừ cỏ và thuốc bảo vệ thực vật mà tiến hành chăm bón chè bằng các chế phẩm sinh học, thuốc thảo dược như sử dụng phân sạch NPK 4-2-1-0,5%S của Công ty phân lân Văn Ðiển. Ðây là loại phân bón đã được các nước Ô-xtrây-li-a và Nhật Bản chấp nhận nhập khẩu để bón cho cây chè. Quy trình chế biến cũng đã được cải tiến hoặc thay thế như thay công nghệ chế biến chè đen của Liên Xô trước đây sang sản xuất theo công nghệ của Xri Lan-ca; nhập khẩu máy tách cẫng chè của Nhật Bản vừa giảm lao động phổ thông, vừa bảo đảm vệ sinh trong khâu chế biến. Chính vì vậy, sản phẩm chè của công ty  xuất khẩu chủ yếu đến các thị trường khó tính như Anh, Hà Lan, Ðức và một số nước Ðông Âu. Năm 2010, công ty   tiêu thụ được gần 1.900 tấn sản phẩm, doanh thu hơn 60 tỷ đồng. Việc chuyển đổi quy trình sản xuất và công nghệ chế biến cũng được thực hiện ở các đơn vị sản xuất chè trên địa bàn, nâng cao chất lượng vườn chè và sản phẩm chè Tuyên Quang. Phó Chủ tịch UBND huyện Hàm Yên Nông Huy Tùng cho biết, huyện xác định  chè là cây trồng mũi nhọn giúp các hộ dân xóa nghèo bền vững. Ðể nâng cao hơn nữa năng suất, chất lượng chè, huyện tiếp tục đẩy mạnh công tác tuyên truyền, hướng dẫn các hộ trồng chè sản xuất, chế biến chè đúng kỹ thuật, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm.

(Còn nữa)

Có thể bạn quan tâm