TS Dương Quốc Trọng cho biết, trước đây chúng ta tập trung vào việc giảm sinh và đã đạt được nhiều thành tựu, tuy nhiên chiến lược dân số - sức khỏe sinh sản Việt Nam giai đoạn 2011-2020 không còn tập trung duy nhất vào việc giảm sinh nữa mà nhằm tới năm mục tiêu cụ thể: Nâng cao chất lượng dân số; Cải thiện sức khỏe bà mẹ, trẻ em; Phát huy lợi thế cơ cấu “dân số vàng”; Chủ động điều chỉnh tốc độ tăng dân số và Kiểm soát tỷ số giới tính khi sinh.
Hiện nay, một số địa phương có mức sinh rất thấp, nhiều ý kiến đưa ra mới đây cho rằng nên cân nhắc tăng mức sinh, để người dân đẻ theo ý muốn.
Theo TS Dương Quốc Trọng, để giải quyết vấn đề này Tổng cục dân số đã phân tích và đưa ra ba "kịch bản": Thứ nhất nếu để tốc độ sinh tăng cao thì dân số đạt cực đại vào năm 2060 với khoảng 120 triệu dân. Thứ hai, để mức sinh thấp thì dân số Việt Nam đạt 100 triệu dân năm 2040. Thứ ba, để mức sinh trung bình, mức sinh thấp hợp lý thì quy mô dân số cực đại năm 2050 là 110 triệu dân.
Theo thống kê năm 2010, Việt Nam là một trong những nước đông dân, đứng thứ 14 trên thế giới về quy mô dân số, so với Trung Quốc là nước đông dân nhất thế giới, Việt Nam có mật độ dân số gấp 1,8 lần. Nếu dân số tăng cao, mật độ tiếp tục tăng, quy mô dân số lớn sẽ cản trở sự phát triển kinh tế - xã hội.
Tuy nhiên, theo TS Dương Quốc Trọng Việt Nam cũng không thể lựa chọn phương án mức sinh thấp, vì theo quy luật, sau khi đạt đến cực đại dân số sẽ quay đầu giảm. Điều này sẽ dẫn đến rút ngắn quá trình già hóa dân số, tạo sức ép cho việc chăm sóc người cao tuổi.
Vì vậy, phương án thứ ba để mức sinh “thấp hợp lý” sẽ là phương án tối ưu nhất được Tổng cục Dân số Việt Nam đề xuất thực hiện. Việt Nam cần giải bài toán dân số theo hướng “nhìn xa, trông rộng”. Chúng ta chấp nhận quy mô dân số gia tăng đạt cực đại đến năm 2050 để có cơ cấu dân số hợp lý giữa trẻ em với người lao động và người già.
TS Dương Quốc Trọng cũng đưa ra bài học kinh nghiệm từ Trung Quốc để dẫn chứng. “Trung Quốc thi hành chính sách một con “nghiệt ngã” dẫn đến mô hình đáng lo ngại 4-2-1. Tức là bốn ông bà nội ngoại, hai bố mẹ xoay quanh một đứa trẻ. Nhưng 20 năm nữa, những đứa trẻ vốn là “vua”, đòi gì là có sáu người đáp ứng ấy, sẽ phải một mình chăm sóc sáu người là bốn ông bà và hai bố mẹ. Hiện nay, Trung Quốc cũng đang thay đổi sang chính sách một con rưỡi/gia đình” – ông Trọng nói.
Mức sinh hiện nay của Việt Nam trung bình mỗi phụ nữ có hai con. Mức sinh thấp hợp lý từ nay đến 2020 cố gắng duy trì ở mức 1,8 đến 2 con là vừa, dứt khoát không để tăng lên, cũng không để giảm sâu. Ông Trọng cho rằng, phải điều chỉnh linh hoạt để tổng tỷ suất sinh không rơi xuống quá thấp. Kinh nghiệm ở các nước cho thấy, khi tỷ suất sinh rơi xuống còn 1,3 đến 1,4 con rồi không có cách gì nâng lên được.
“Hai con là tốt hơn”
Tuy nhiên, TS Dương Quốc Trọng cũng nêu rằng, Việt Nam có bức tranh dân số rất khác nhau giữa các vùng miền và các tỉnh khác nhau. Với các tỉnh miền Đông, miền Tây Nam bộ, mức sinh ở mức rất thấp. Các tỉnh như như Long An, Cần Thơ… tỷ suất sinh từ 1,5 - 1,6 con. Lo ngại hơn, TP Hồ Chí Minh mức sinh năm 2009 là 1,45 con/bà mẹ. Đến năm 2011, tỷ suất sinh ở địa phương này giảm xuống còn 1,3 con, năm 2012 con số này có tăng lên cũng chỉ mới đạt mức 1,33 con/bà mẹ. Trong khi đó, bình quân cả nước năm 2012 là 2,06 con/bà mẹ.
“Điều này cho thấy rất nhiều phụ nữ đang dừng ở một con. Chúng tôi không khuyến cáo sinh ba con, nhưng các cặp vợ chồng cũng không nên chỉ sinh một con. Tình hình ở TP Hồ Chí Minh là đáng báo động. Một số nước phát triển cũng gặp tình trạng tương tự đã chuyển đổi thông điệp, từ “hai con là đủ” trước đây sang thông điệp “hai con là tốt hơn”, vì vậy nên chăng TP Hồ Chí Minh nên chuyển đổi thông điệp mỗi cặp vợ chồng hãy nên có hai con” - ông Trọng cho biết.
TS Dương Quốc Trọng tỏ ra lo ngại nếu thực trạng này cứ tiếp diễn, sẽ có lúc đứa bé sinh ra hỏi bố mẹ: Bác là gì? Chú là gì? Những thuật ngữ chỉ mối quan hệ anh em họ hàng sẽ mất đi.
Ông cũng phân tích, với tình hình kinh tế - xã hội như vậy, lẽ ra Hà Nội phải giống TP Hồ Chí Minh, nhưng Hà Nội và cả vùng đồng bằng sông Hồng làm công tác dân số rất khó, mức sinh có giảm nhưng vẫn xung quanh mức bình quân 2,1 đến 2,2 con/bà mẹ. “Đặc biệt là mất cân bằng giới tính khi sinh, cứ lấy Hà Nội làm tâm mà quay một vòng bán kính 100 km thì không địa phương nào không mất cân bằng giới tính, từ Bắc Giang, Bắc Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Thái Bình, Hòa Bình...” - ông Trọng cho hay.
Các chuyên gia dân số lý giải nguyên nhân có thể do vùng ĐB sông Hồng vẫn còn nặng nề về văn hóa, muốn sinh con trai hơn con gái. Trong khi đó, các tỉnh miền núi phía Bắc như Hà Giang, Tuyên Quang, Lai châu, các tỉnh Tây Nguyên, huyện miền núi của các tỉnh miền Trung mức sinh còn khá cao, trên dưới 3 con. Tỷ suất sinh này gấp đôi so với TP Hồ Chí Minh và muốn giảm được từ 3 con xuống 1,8 đến 2 con là con đường dài, gian nan, khó khăn, phức tạp. Do vậy, tùy mỗi vùng miền lại đặt ra những mục tiêu khác nhau.
“Triển khai chính sách dân số ở 63 tỉnh, thành cần 63 cái lược khác nhau chứ không thể dùng một cái để chải chung được. Chính sách là chính sách chung nhưng ở mỗi vùng, mỗi tỉnh cần có cách làm riêng, tỉnh này cần đặt mục tiêu giảm sinh, tỉnh khác chú trọng giảm mất cân bằng giới tính khi sinh, cũng có tỉnh, có vùng tập trung nâng cao chất lượng dân số” – TS Dương Quốc Trọng thí dụ.
| “Việt Nam không có “chính sách hai con” mà là cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng chỉ nên sinh từ một đến hai con. Trong các văn bản pháp luật không hề có quy định xử phạt đối với hành vi sinh con thứ ba trở lên nhưng cán bộ đảng viên sinh con thứ ba trở lên sẽ bị xử lý theo quy định của Điều lệ Đảng và các văn bản liên quan. Các thành viên của cơ quan, tổ chức thì chấp hành kỷ luật theo quy chế, điều lệ hoặc các hình thức khác do cơ quan, tổ chức ban hành” – Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số - Kế hoạch hóa gia đình nhấn mạnh. |