Sau khi thực hiện sắp xếp, sáp nhập địa giới hành chính, tỉnh An Giang mới trở thành một trong những đơn vị có quy mô dân cư và diện tích lớn nhất vùng Đồng bằng sông Cửu Long, là nơi hội tụ, giao thoa văn hóa đặc sắc của các dân tộc Kinh, Khmer, Chăm và Hoa.
Sự đa dạng này đã dệt nên một bức tranh di sản vô cùng đặc sắc, từ các điệu múa Romvong, nghệ thuật sân khấu Dù kê, Rô băm của người Khmer; các điệu múa Chăm bên tiếng trống Ghi-năng, điệu kèn Saranai cho đến nghệ thuật hát Tiều, múa lân sư rồng của người Hoa.
Bên cạnh đó là hệ thống lễ hội như Sene Dolta, Chôl Chnăm Thmây, Ok Om Bok, Katê, Ramadan, Nguyên Tiêu, Nghinh Ông... liên tục thu hút hàng vạn lượt du khách tham quan mỗi năm.
Tỉnh An Giang, với đặc trưng là sự giao thoa của nhiều cộng đồng dân tộc, có điều kiện thuận lợi để hình thành mạng lưới không gian văn hóa đa dạng, phân bố theo vùng sinh thái-văn hóa đặc trưng.
Ở vùng Bảy Núi và Tịnh Biên, Tri Tôn, phát triển không gian văn hóa Khmer gắn với các chùa Nam tông, nghề dệt thổ cẩm, biểu diễn nhạc ngũ âm, múa Romvong và các lễ hội truyền thống như Chôl Chnăm Thmây, Dì kê, Dù kê.
Ở xã Ô Lâm, nghệ nhân Kim Rên năm nay đã ngoài 70 tuổi vẫn miệt mài truyền dạy những làn điệu Dì kê cho lớp trẻ. Ông nói điều khiến mình trăn trở nhất không phải là tuổi tác, mà là tìm được người đủ đam mê để giữ nghề.
Ở khu vực An Phú, Tân Châu, có thể hình thành không gian văn hóa Chăm với các thánh đường Islam, làng nghề gốm, dệt thủ công và nghệ thuật múa hát dân gian. Nghệ nhân Mohamad ở làng Chăm Châu Phong là người nặng lòng với thổ cẩm Châu Giang cho biết, sản phẩm nổi tiếng cả nước nhưng hiện nay số lượng thợ dệt, người làm nghề không còn nhiều.
Sau này, được địa phương hỗ trợ, ông Mohamad vừa làm mặt hàng thổ cẩm vừa kết hợp du lịch nhờ đó mặt hàng có đầu ra, làng nghề thổ cẩm Châu Giang tiếp tục duy trì.
Còn ở các đô thị như Châu Đốc, Long Xuyên, Rạch Giá, Hà Tiên gắn với xây dựng không gian văn hóa Hoa cùng hệ thống miếu, hội quán, Lễ hội Nghinh Ông, Nguyên Tiêu và ẩm thực truyền thống.
Nhưng với mặt trái của tốc độ đô thị hóa, hội nhập kinh tế và làn sóng công nghệ số đang đẩy nguồn tài nguyên văn hóa đa dạng này đứng trước nguy cơ mai một lớn. Để hiện thực hóa mục tiêu bảo tồn bền vững, đề án của Ủy ban nhân dân tỉnh xác định rõ các quan điểm cốt lõi.
Bảo tồn gắn liền với phát huy sáng tạo, công tác bảo tồn phải đặt trong tiến trình phát triển năng động; chuyển hóa di sản thành các sản phẩm du lịch trải nghiệm độc đáo, sản phẩm OCOP hay mô hình sinh kế trực tiếp để tạo ra hiệu ứng kép: vừa tăng thu nhập cho người dân, vừa nuôi dưỡng niềm tự hào dân tộc; phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng, đồng bào dân tộc thiểu số chính là người sáng tạo, thực hành và giữ lửa di sản. Nhà nước đóng vai trò định hướng, hỗ trợ chính sách; còn người dân phải là trung tâm, được trao quyền từ khâu hoạch định, tổ chức đến thụ hưởng thành quả.
Theo lộ trình, từ năm 2026-2030, địa phương sẽ tập trung ưu tiên bảo vệ nghiêm ngặt các loại hình văn hóa có nguy cơ biến mất; đồng thời kiến tạo hệ thống không gian văn hóa cộng đồng đa dạng gắn liền với các tuyến du lịch trải nghiệm đặc thù.
Theo đó, cần tiến hành rà soát, thống kê và phân loại đội ngũ nghệ nhân, thợ thủ công, nghệ sĩ dân gian trong các cộng đồng dân tộc Khmer, Chăm, Hoa ở vùng đồng bào thiểu số của tỉnh.
Từ đó, xây dựng danh mục nghệ nhân tiêu biểu trong từng loại hình văn hóa-nghệ thuật, nghề thủ công, lễ hội, ẩm thực, tri thức dân gian để có cơ sở áp dụng các chính sách hỗ trợ và tôn vinh phù hợp.
Về chính sách đãi ngộ, cần triển khai hiệu quả các quy định hiện hành của Nhà nước; đồng thời xây dựng cơ chế đặc thù của tỉnh, trong đó bao gồm trợ cấp thường xuyên hoặc định kỳ cho nghệ nhân cao tuổi, nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân gặp khó khăn; hỗ trợ quảng bá, tiêu thụ sản phẩm thủ công truyền thống thông qua các hội chợ, triển lãm, sàn thương mại điện tử, hoặc kết nối với sản phẩm OCOP và du lịch văn hóa.
Song song đó, cần xây dựng chính sách khuyến khích truyền dạy và đào tạo thế hệ kế cận, bằng cách hỗ trợ nghệ nhân mở lớp dạy nghề, dạy múa hát dân gian, dạy ngôn ngữ và tri thức dân tộc trong cộng đồng.
Để tăng hiệu quả khai thác, cần liên kết các không gian văn hóa cộng đồng thành tuyến, cụm, hoặc sản phẩm du lịch đặc thù, như tuyến “Khám phá văn hóa Khmer-Chăm-Hoa An Giang”, hay sản phẩm “Một ngày làm nghệ nhân”, “Trải nghiệm làng nghề truyền thống”.
Ngoài ra, cần khuyến khích ứng dụng công nghệ số và truyền thông đa phương tiện trong quảng bá, giới thiệu điểm đến, qua đó mở rộng phạm vi tiếp cận của du khách trong và ngoài nước.
Tỉnh sẽ phối hợp chặt chẽ với các doanh nghiệp lữ hành để thiết kế các tuyến du lịch chuyên đề mang tính liên vùng như: "Hành trình qua miền di sản An Giang", "Sắc màu văn hóa vùng biên giới"... phấn đấu tăng trưởng lượng khách đến vùng đồng bào dân tộc từ 10-15% mỗi năm.
Về mặt tài chính, An Giang áp dụng cơ chế linh hoạt khi kết hợp hài hòa giữa ngân sách Nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa. Ngân sách Nhà nước bảo đảm kinh phí thực hiện theo phân cấp, tỉnh giao Sở Văn hóa và Thể thao chủ trì phối hợp Sở Tài chính lập dự toán chi tiết hằng năm trên tinh thần tiết kiệm, hiệu quả.
Song song đó, tỉnh khuyến khích huy động các nguồn lực từ doanh nghiệp lữ hành, các quỹ văn hóa và dự án quốc tế để hỗ trợ chi phí xây dựng hạ tầng điểm đến. Việc bán các ấn phẩm văn hóa, đồ lưu niệm, sản phẩm thủ công truyền thống và các tour trải nghiệm sẽ tạo ra nguồn kinh phí tái đầu tư bền vững, giúp mô hình tự vận hành hiệu quả.