Ý nghĩa quốc tế và thời đại của Chiến thắng Ðiện Biên Phủ

Bộ đội kéo pháo lên điểm cao để bắn thẳng vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
Bộ đội kéo pháo lên điểm cao để bắn thẳng vào tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Trong số các đại biểu quốc tế, có những người chứng kiến sự kiện Ðiện Biên Phủ lẫy lừng như Giáo sư Sác-lơ Phuốc-ni-ô (Pháp), Len An-đi (Anh). Có những người vì bận việc không thể đến dự nhưng đã gửi tham luận tới Hội thảo như ông E.Gla-du-lốp, lãnh đạo Hiệp hội nước Nga về hợp tác quốc tế (PAMC) và Hội Hữu nghị Nga - Việt; như ông Ti-nô Ta-gli-a-du-chi, Ủy viên Ðoàn Chủ tịch Hội Hữu nghị Italy - Việt Nam, Nhà nghiên cứu về Chủ tịch Hồ  Chí Minh.

Ý kiến của các đại biểu quốc tế tại Hội nghị làm rõ hơn nữa tầm vóc và tác động của Chiến thắng Ðiện Biên Phủ đối với tình hình khu vực và trên thế giới. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ được coi là một trong 20 chiến dịch quân sự lớn và quan trọng nhất trên thế giới.

Giáo sư sử học Pháp Sác-lơ Phuốc-ni-ô, 83 tuổi, vẫn khỏe mạnh và minh mẫn, dành một phần lớn cuộc đời cho công cuộc nghiên cứu Việt Nam, cho rằng: "Trận Ðiện Biên Phủ chính là kiểu mẫu của những sự kiện trọng đại mở ra những thời kỳ lịch sử mới. Ở Pháp, sự thất bại của Pháp đã có nhiều tác động, góp phần vào sự thay đổi lớn về chính trị. Người ta có lý khi  nói rằng nền Cộng hòa đệ tứ của Pháp đã bị giết chết bởi Ðiện Biên Phủ. Nó còn mở ra một thời kỳ mới trong lịch sử và nền chính trị của CH Pháp.Thất bại của Pháp ở Ðiện Biên Phủ lan đến các nước thuộc địa, đánh dấu sự mở đầu của tiến trình hóa giải chủ nghĩa thực dân.

Rõ ràng rằng, Chiến thắng Ðiện Biên Phủ trước hết là sự chiến đấu anh hùng  của dân tộc Việt Nam, là sự tài tình trong chỉ huy chính trị và quân sự, là sự ủng hộ của các lực lượng tiến bộ trên toàn thế giới. Thất bại của nước Pháp ở Ðiện Biên Phủ dường như là kết quả của bản chất chế độ đô hộ thuộc địa mà một trong những đặc tính sâu sắc nhất là không có khả năng hiểu biết người khác".

Sau khi phê phán nhà cầm quyền Pháp lúc đó đã "mù quáng về mặt quân sự, mù quáng về văn hóa và mù quáng về chính trị", Giáo sư S.Phuốc-ni-ô vạch rõ: "Ở Việt Nam, sự thất bại của chủ nghĩa thực dân ở Ðiện Biên Phủ đã mở ra một nền dân chủ thật sự và sự phát triển. Lý do là ở đây có sự tồn tại hàng nghìn năm của một nền văn hóa, của một dân tộc, một nhà nước; có một Ðảng Cộng sản biết liên kết những yêu cầu mang tính dân tộc và những yêu cầu mang tính xã hội. Vậy là, sự kiện đặc biệt - Chiến thắng Ðiện Biên Phủ có cội rễ vừa trong quá khứ sâu xa của dân tộc Việt Nam, vừa trong những nguồn sinh lực của tương lai".

Trả lời câu hỏi về phản ứng của nhân dân Pháp đối với cuộc xâm lược của nhà cầm quyền Pháp ở Việt Nam, Tiến sĩ A-lanh Ru-xi-ô, Chủ tịch Trung tâm Thông tin và Tư liệu về Việt Nam  của Pháp cho biết, lúc đó có ít người Pháp quan tâm cuộc chiến tranh của Pháp ở Việt Nam vì nó rất xa xôi, nhưng trong số những người quan tâm thì có tới gần hai phần ba phản đối cuộc chiến tranh và chính Ðảng Cộng sản Pháp đã phát động và tiến hành cuộc đấu tranh đòi nhà cầm quyền Pháp chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Sau đó, phong trào phản đối chiến tranh phát triển và được nhân lên bởi các cuộc đấu tranh đòi trả tự do cho những người phản đối chiến tranh như Ăng-ri Mác-tanh, Ray-mông Ðiêng. Nhà cầm quyền Pháp bưng bít thông tin, thậm chí lừa dối nhân dân.

Giáo sư sử học Pháp Ben-gia-min Xto-ra nhận xét về ảnh hưởng to lớn của Chiến thắng Ðiện Biên Phủ đối với tiến trình  phi thực dân hóa ở châu Phi. Ông nói: "Ðã 50 năm qua đi, năm 1954 vẫn hiện lên như một thời điểm trọng đại, một bước ngoặt trong lịch sử đương đại không đầy mười năm sau chiến tranh thế giới thứ hai. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ ngày 7-5-1954 và việc ngày 1-11 năm đó Mặt trận Giải phóng Dân tộc Algeria phát động cuộc đấu tranh vũ trang chống lại thực dân Pháp đã mở đầu thời kỳ phi thực dân hóa. Cái ngưỡng  cửa lịch sử giữa thời đại của chế độ  thuộc địa và thời đại giải phóng những người bị đô hộ. Ðiện Biên Phủ đã trở thành một kinh nghiệm sống phi thường, một chiếc chìa khóa của sự chuyển biến trong mối liên hệ giữa xã hội bị đô hộ với thế giới bên ngoài... Ðối với những người lính Pháp, một ám ảnh bao trùm  lên mọi suy nghĩ  của họ là: tránh một  Ðiện Biên Phủ mới ở Algeria cả về quân sự và ngoại giao".

Ủy viên Ðoàn Chủ tịch Hội Hữu nghị Italy - Việt Nam Pi-nô Ta-gli-a-du-chi kể rằng: "Mới đây, một  số sinh viên đại học ở Italy đề nghị tôi giải thích về thắng lợi của Việt Nam trong hai cuộc chiến tranh chống xâm lược, nhất là chiến thắng Ðiện Biên Phủ. Ðây không phải là điều lạ vì người ta đã nhiều lần hỏi tôi rằng vì sao một đất nước tương đối nhỏ bé và lạc hậu về công nghệ, vừa thoát ra khỏi ách thực dân gần 100 năm lại có thể  đánh thắng hai cường quốc là Pháp và Mỹ? và tại sao Pháp lại thua, hay nói cách khác là tại sao người Việt Nam lại thắng khi Ðiện Biên Phủ lại là một cuộc chiến tranh  theo kiểu phương Tây với những chiến tuyến phòng thủ và tiến công  đối đầu trực diện như trong cuộc chiến tranh  thế giới lần thứ nhất đòi hỏi được đào tạo và có sự hiểu biết quân sự bài bản? Những sinh viên học về những năm tháng đó thường đặt ra những câu hỏi như vậy, bởi vì  trong các giáo trình lịch sử, thậm chí cả những giáo trình quan trọng đã nêu ra các câu trả lời, nhưng có rất ít câu trả lời thuyết phục. Câu trả lời đúng nhất và đầy đủ nhất cho câu hỏi tại sao dân tộc Việt Nam chiến thắng phải là: Vì cuộc chiến tranh giải phóng của dân tộc Việt Nam là cuộc chiến tranh nhân dân. Ðó là lòng quyết tâm và sự hăng hái tham gia của cả một dân tộc.

Phó Viện trưởng nghiên cứu Văn hóa của CHDCND Lào, Tiến sĩ Bu-thong Xúc-xa-vát nói lên cảm nhận của nhân dân Lào về Chiến thắng Ðiện Biên Phủ qua hoạt động của quân đội hai nước phối hợp với các đồng đội ở Ðiện Biên Phủ, qua đó nói lên tài thao lược quân sự và chính trị của các nhà lãnh đạo Việt Nam. Ông cho biết: "Ðể đánh lạc hướng phán đoán của địch, tạo điều kiện cho việc chuẩn bị tiến công Ðiện Biên Phủ, ngày 26-1-1954, Liên quân Lào - Việt Nam mở cuộc tiến công đánh tan phòng tuyến của địch ở Nậm Ù, Thượng Lào, giải phóng hoàn toàn tỉnh Phông Xa-lỳ, tiến sát Luông Pha-băng, phòng tuyến Nậm Ù mà địch gọi là "con đường liên lạc với Ðiện Biên Phủ" bị phá vỡ, 17 đại đội quân địch trong đó có một tiểu đoàn Âu-Phi bị tiêu diệt. Vùng giải phóng của nhân dân Lào mở rộng thêm gần 10.000 km2 nối liến với khu Tây-Bắc Việt Nam.

Trước sự tiến công bất ngờ của Liên quân Lào-Việt Nam và sợ Liên quân Lào-Việt đánh thẳng vào kinh đô Luông Pha-băng, Navarre phải gấp rút tăng cường cho Luông Pha-băng năm tiểu đoàn và cho Mương Sài ba tiểu đoàn. Luông Pha-băng và Mương Sài trở thành nơi tập trung binh lực lớn thứ 5 của địch trên chiến trường Ðông Dương. Thắng lợi của chiến dịch Thượng Lào đã mở rộng khu giải phóng Thượng Lào - trung tâm kháng chiến của Lào, phá tan kế hoạch của địch uy hiếp Việt Bắc, Ðiện Biên Phủ bị cô lập giữa vùng tự do rộng lớn của Lào và Việt Nam. Những đòn tiến công chiến lược của quân và dân ba nước Lào, Việt Nam và Cam-pu-chia trên toàn chiến trường Ðông Dương đã làm cho việc tập trung binh lực của địch tại đồng bằng Bắc Bộ trong kế hoạch Navarre bị phá sản. Lực lượng của địch phải dàn mỏng ra trên khắp các mặt trận, do đó lực lượng cơ động của địch tại đồng bằng sông Hồng từ 44 tiểu đoàn rút xuống chỉ còn 20 tiểu đoàn. Ðến lúc này, trong năm khu vực tập trung binh lực của địch chỉ còn tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ là cứ điểm tập trung nhiều binh lực tinh nhuệ và là tập đoàn cứ điểm mạnh nhất của Pháp ở Ðông Dương.

Ngày 13-3-1954, quân đội Việt Nam nổ súng tiến công tập đoàn cứ điểm Ðiện Biên Phủ, mở đầu cho thời kỳ thứ hai của cuộc tiến công chiến lược mùa khô 1953-1954. Chiến thắng Ðiện Biên Phủ đã thúc đẩy cao trào tiến công và nổi dậy mới trên khắp các chiến trường Ðông Dương.

Có thể bạn quan tâm