Xử lý tình trạng chiếm đất công tại Ðồng Nai

Ông Phùng Văn Bính ở ấp 10, xã Sông Ray (huyện Cẩm Mỹ) chiếm 3.984 m2 đất do Xí nghiệp sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Cẩm Mỹ quản lý. Ðất này do một người nhận khoán của Nông trường quốc doanh Sông Ray 4 nhượng lại quyền nhận khoán cho ông từ năm 1992. Sau đó, do ông sử dụng đất sai mục đích (xây nhà, đào ao nuôi cá, lập vườn) nên xí nghiệp không tiếp tục ký hợp đồng giao khoán đất.

Cũng tại Xí nghiệp Sản xuất và Dịch vụ nông nghiệp Cẩm Mỹ, ông Nguyễn Văn Toàn ở ấp 9, xã Sông Ray và 11 hộ nữa trong tháng 8-2008 đã tổ chức chiếm lại 28.400 m2 đất của xí nghiệp đã giao khoán cho các hộ dân địa phương canh tác từ năm 2004. Họ lập luận rằng đất này do Nông trường quốc doanh Sông Ray 4 giao khoán theo Nghị định 01 cho họ từ những năm 80 của thế kỷ trước. Năm 1992, đơn vị quản lý đất là Nông trường quốc doanh Sông Ray 4 đổi tên thành Xí nghiệp Cẩm Mỹ, nhưng họ cho rằng nông trường đã giải thể nên quyền sử dụng đất phải thuộc về họ chứ không phải về xí nghiệp, họ không có trách nhiệm phải thực hiện nghĩa vụ nhận khoán với xí nghiệp. Do đó, việc năm 2004, xí nghiệp ra quyết định thu hồi đất của họ giao khoán cho những hộ khác với lý do không thực hiện nghĩa vụ người nhận khoán là việc làm trái phép.

Ðến thời điểm này, tại Xí nghiệp Cẩm Mỹ, có 105 hộ trong tổng số 400 hộ nhận khoán sử dụng đất sai mục đích hoặc không thực hiện nghĩa vụ của người nhận khoán, mua bán, sang nhượng lại hợp đồng giao khoán đất không qua xí nghiệp, không chấp nhận sự điều hành, quản lý, tổ chức sản xuất của xí nghiệp mà thực chất là chiếm giữ đất của xí nghiệp với tổng diện tích gần 30 ha.

Tại Công ty TNHH một thành viên Thọ Vực, cũng có nhiều hộ nhận khoán chiếm đất sản xuất của đơn vị để làm nhà ở, tự ý chuyển nhượng trái phép. Ðã phát hiện 14 suất nhận khoán với diện tích 10,14 ha đất sản xuất và 0,27 ha đất ở đã bị sang nhượng bằng giấy tay. Con số sai phạm thực tế chắc còn lớn hơn nhiều. Việc chiếm đất còn thể hiện bằng hành động né tránh nộp tiền sử dụng đất và các khoản nghĩa vụ khác. Ðồng chí Phạm Văn Yên, Giám đốc Xí nghiệp Cẩm Mỹ và đồng chí Nguyễn Minh Tuấn, Phó Giám đốc Công ty Thọ Vực cho rằng, hiện tại có đến 80% số hộ nhận khoán không chịu thực hiện nghĩa vụ người nhận khoán, với tổng số tiền nợ lên đến gần hai tỷ đồng.

Nạn lấn chiếm đất công cũng xảy ra ở nhiều ban quản lý rừng phòng hộ, Trung tâm Lâm nghiệp Biên Hòa và cả Khu bảo tồn thiên nhiên - di tích Vĩnh Cửu. Tính riêng tại Ban quản lý rừng phòng hộ Tân Phú, diện tích bị lấn chiếm lên đến hơn 170 ha.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến hành vi lấn chiếm đất công. Trước hết, do người dân hiểu sai hoặc cố tình hiểu sai Luật Ðất đai năm 2003. Khoản 4 điều 50 Luật Ðất đai năm 2003 chỉ áp dụng đối với trường hợp đất chưa được Nhà nước giao cho bất cứ ai, và khi đã có quyết định giao cho một tổ chức quản lý sử dụng thì không thể áp dụng điều khoản này được. Một số người không hiểu hoặc cố tình không hiểu doanh nghiệp được phép thay đổi tên gọi cho phù hợp tình hình nhiệm vụ mới, cho nên khi không còn tên gọi cũ thì cho rằng doanh nghiệp đã giải thể. Lấn chiếm đất công còn do phát sinh từ cơ chế khoán. Nghị định 01/CP ngày 4-1-1995 cho phép giao khoán đất nông, lâm nghiệp và nuôi trồng thủy sản trong các doanh nghiệp nhà nước đến 20 năm đối với đất trồng cây hằng năm và 50 năm đối với cây lâu năm, được phép làm lán trại, công trình phụ trên đất nhận khoán, khiến người nhận khoán ngộ nhận về lâu dài, đất khoán trở thành đất của mình. Thêm vào đó, việc được phép sinh sống lâu dài trên đất khoán là cơ sở để địa phương căn cứ Nghị định 51/CP (ngày 10-5-1997) cho người nhận khoán được đăng ký hộ khẩu thường trú, càng làm cho họ cố gắng giữ đất. Việc các nông, lâm trường quốc doanh cắt đất giao cho địa phương quản lý, người canh tác trên đất đó được cấp quyền sử dụng đất, làm giá đất tăng cao khiến người nhận khoán đất của doanh nghiệp cố bám giữ lấy đất. Một nguyên nhân nữa, là người nhận khoán muốn được làm chủ đất để được tự do mua bán, kinh doanh đất đai hoặc chọn lựa cây trồng, vật nuôi thay vì chịu sự điều hành của đơn vị quản lý.

Ðất công bị lấn chiếm còn do đơn vị được giao đất, quản lý đất không chặt chẽ, giao khoán đất không có hợp đồng, không kịp thời phát hiện việc người nhận khoán sử dụng đất sai mục đích, sang nhượng trái phép để trục lợi và khi phát hiện lại không kiên quyết thu hồi. Về phía chính quyền cũng không tích cực hỗ trợ đơn vị quản lý đất xử lý vi phạm, đùn đẩy trách nhiệm.

Ðể ngăn chặn những hành vi lấn chiếm đất công, các ngành chức năng cần tăng cường phổ biến pháp luật tới người dân, nhất là Luật Ðất đai để người dân hiểu và thực hiện đúng. Với những đối tượng cố tình hiểu sai pháp luật, cần thiết phải bị xử lý nghiêm. Về phía đơn vị được giao đất, phải tăng cường quản lý, không để xảy ra tình trạng sử dụng đất sai mục đích, tự ý sang nhượng đất nhận khoán. Ðối với những trường hợp vi phạm hợp đồng nhận khoán, đơn vị giao khoán đất cần kiên quyết xử lý thu hồi. Chính quyền địa phương cũng cần giúp đỡ doanh nghiệp trong việc quản lý đất công và không cấp đăng ký hộ khẩu thường trú trên đất sản xuất của đơn vị được giao đất.

LÂM HUỆ NỮ

Có thể bạn quan tâm