Vĩnh biệt "người lĩnh xướng  của dàn thơ chống Mỹ"

Trong hơn nửa thế kỷ qua, ở nước ta có nhiều cuộc thi thơ, nhưng ít khi những tác phẩm trúng giải được bạn đọc đồng tình như cuộc thi của tuần báo Văn nghệ năm 1969. Và cũng ít có cuộc thi nào mà giải nhất được thuyết phục như cuộc thi đó. Người đoạt giải nhất đó không ai khác ngoài Phạm Tiến Duật!

Thơ Phạm Tiến Duật xuất hiện từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, khi anh vừa tốt nghiệp Khoa văn Trường đại học Sư phạm Hà Nội và bước vào quân ngũ, nhưng dư âm của cuộc sống sinh viên sớm mờ nhạt, nhường chỗ cho tâm hồn người lính trẻ lên ngôi.

Những bài thơ đoạt giải của anh thuyết phục đến nỗi không những thời đó được bạn đọc nhập tâm mà về sau xuất hiện trong nhiều tuyển tập thơ với tư cách là những bài thơ tiêu  biểu  của  thời  chống Mỹ, cứu nước. Ðó là Lửa đèn, Tiểu đội xe không kính. Ðó là Gửi em cô thanh niên xung phong và Nhớ...

Cuộc thi đó tổng kết và trao giải vào tháng 3 năm 1970, Phạm Tiến Duật ở chiến trường không về nhận giải được và ban tổ chức nhờ nhà thơ Ngô Văn Phú (khi đó là biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội) lên nhận hộ. Giải nhất của anh là một cái đài Oriongtong. Bây giờ cái đài loại đó nếu có cho cũng chẳng ai dùng, vì nó vừa to, vừa hay tậm tịt, có khi đang nói bỗng im bặt và phải chữa bằng cách vỗ mạnh vào (chỉ được ưu điểm nói rất to!) nhưng vào thời đó là một vật quý, hiếm ít ai có được.

Tôi nhớ một người trong Ban Tổ chức cuộc thi đã giải thích đại ý rằng, giải nhất quá to so với các giải nhì, ba... và mong các anh chị được giải thấp hơn thông cảm vì cái đài đó không thể chia ra được! Anh em về nhận giải thưởng năm đó kháo nhau rằng, cái đài giải thưởng đó đáng giá 400 đồng, trong khi giải nhì chỉ được 100 đồng, giải ba 80 đồng... Ðó là nói giá trị, còn sự thật cái đài quý hơn nhiều, bởi nếu có 400 đồng thì cũng không mua nổi cái đài, vì không có nơi nào bán cả.

Ðến tháng 6 năm 1971, Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức cuộc họp các cây viết trẻ toàn quốc. Tôi đinh ninh rằng, chuyến này sẽ được gặp mặt Phạm Tiến Duật nhưng rồi lại thất vọng vì anh vẫn ở chiến trường không về Hà Nội được. Anh em ngồi trong hội trường trân trọng chuyền tay nhau đọc mấy bài thơ đánh máy mà Phạm Tiến Duật nhờ một người bạn ở chiến trường mang ra gửi đăng báo. Tôi nhớ trong chùm thơ đó có bài Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây.

Tháng 9 năm 1973, sau khi học xong khóa 5, lớp bồi dưỡng sáng tác của Hội Nhà văn, tôi có một đợt đi thực tế ngắn ở Trường Sơn. Và may mắn thay, trong trại viết của Binh đoàn Trường Sơn ở xã Gia Ninh, huyện Quảng Ninh, tỉnh Quảng Bình, lần đầu tiên tôi được gặp  Phạm Tiến Duật. Mặt hẹp, mũi dài, nước da đen sạm dưới vành mũ sắt là ấn tượng về anh mà tôi lưu giữ trong một thời gian dài. Người anh vốn cao gầy, lại được nai nịt trong bộ quần áo xuân hè vải Tô Châu nên nom càng cao gầy hơn. Vai anh mang chiếc xắc-cốt, tôi hỏi về chiếc đài giải thưởng danh giá kia thì anh bảo rằng, mười mấy tháng sau khi trao giải, cái đài mới đến tay anh, nhưng khốn nỗi nó đã hỏng từ khi nào!

Trại viên trại viết này gồm các chiến sĩ của Binh đoàn Trường Sơn có chút ít năng khiếu sáng tác văn học, phần lớn là lính lái xe và có cả những cô nuôi quân. Nhà thơ Trọng Khoát phụ trách về tổ chức, nhà văn Lê Lựu phụ trách nội dung, còn anh Duật và tôi thuộc diện ăn theo, không phải giao một nhiệm vụ cụ thể nào nên khá rảnh rỗi. Buổi chiều, khi các trại viên ngồi vào bàn viết thì anh và tôi thường thơ thẩn dạo xem phong cảnh thôn xóm. Vùng này có nhiều cồn cát trắng xóa, cồn nọ tiếp cồn kia kéo dài bốn, năm cây số ra tận biển. Ðiều làm hai chúng tôi rất thích thú là những dòng suối bắt nguồn những cồn cát đó chảy ra, nước chỉ sâu vài ba phân nhưng trong như tinh khiết, những nguồn suối nhỏ này gặp nhau, lớn thêm dần, chảy qua làng, làm nguồn nước ăn cho dân và nước tưới cho đồng ruộng. Hai chúng tôi dạo chơi khá xa làng, nói đủ chuyện sáng tác văn chương, tất nhiên không thể thiếu chuyện đọc thơ mình cho bạn nghe, khi khát nước thì chống hai tay xuống suối như động tác tập thể dục, miệng uống trực tiếp nguồn nước mát lành.

Anh Duật nói:

- Cụ Nguyễn Du tả mùa thu Long lanh đáy nước in trời chắc không phải tả những dòng suối này, vì suối ở đây không bao giờ in trời cả.

Tôi nhìn lại đáy suối mới phục nhận xét của anh. Những dòng suối trên cát vừa nông, đáy lại toàn cát trắng xóa nên không bao giờ phản chiếu nền trời. Anh hỏi tôi:

- Vương Trọng có biết ngày xưa các cụ tả như thế nào về nước của những dòng suối như thế này không?

Thấy tôi im lặng, anh nói:

- Lọc không thể trong hơn, khuấy không thể đục được là nhận xét của các cụ ngày xưa đấy. Bây giờ chúng ta không thể tìm câu chữ nào chính xác và hay hơn thế.

Anh bảo tôi nhận xét về trại viết của Binh đoàn, vì thấy nhiều trại viên có chuyện của cá nhân rất hay, nhưng chưa viết được gì, tôi nhận xét khôi hài rằng, ông Khoát và ông Lựu đáng lẽ triệu tập tác giả về trại viết thì lại huy động nhầm các nhân vật!

Anh Duật tỏ ra thích thú nhận xét đó, biết tôi là người thích nói đùa, sau đó anh kể về những chuyện khôi hài ở Trường Sơn.

Dạo đó anh đang làm báo của Binh đoàn Trường Sơn, nhưng ít khi ở cơ quan mà thường trực trên các binh trạm dọc tuyến đường vận tải đầy bom đạn và là người bạn thân thiết của những chiếc xe ZIN, xe GAS...

Anh viết nhiều về chiến sĩ lái xe đến nỗi làm nhiều bạn đọc tưởng anh là một lái xe, có người đã khẳng định như đinh đóng cột với tôi như thế, vì không biết rằng tôi quen anh. Dạo đó anh đang viết trường ca Những vùng rừng không dân, ngồi trên cồn cát trắng, anh đọc tôi nghe một vài đoạn và nói rằng, không biết khi nào mới hoàn thành được trường ca đó vì trong hoàn cảnh thời chiến, viết những gì dài hơi thật khó khăn.

- Thì Lửa đèn của anh cũng dài đấy chứ? Tôi nói.

- Ðó chỉ là một bài thơ, chứ không phải trường ca. Kể cũng lạ, bài thơ đó mình từng gửi báo Văn nghệ mà không thấy đăng, khi có cuộc thi, mình lại gửi dự thi, vừa được đăng, vừa được giải, và nhiều người coi đó là bài thơ hay nhất của mình.

Tôi nói với anh rằng, theo tôi, đó là bài thơ thật hay bởi vừa trữ tình vừa mang đẫm hơi thở của cuộc chiến. Ðó là một bài thơ hoành tráng, nói lên tầm vóc của tác giả.

- Vương Trọng thích đoạn nào nhất?

- Ðoạn nói về những ngọn đèn tự nhiên chứng tỏ anh đã kết hợp hài hòa giữa nhìn và nghĩ. Tôi đọc theo trí nhớ nhé: Quả nhót như bóng đèn tín hiệu/Trỏ lối sang mùa hè/Quả cà chua, chiếc đèn lồng nhỏ xíu/Thắp mùa đông ấm những đêm thâu/Quả ớt như ngọn đèn dầu/Chạm vào lưỡi, chạm vào sức nóng... Hôm tổng kết cuộc thi, nhà phê bình Hoài Thanh thích nhất câu anh viết về quả ớt...

CỨ thế, chuyện này tiếp nối chuyện kia, anh và tôi ngồi trò chuyện cả buổi chiều. Vậy là lần đầu tiên hai chúng tôi gặp nhau cũng là lần ngồi với nhau lâu nhất. Sau khi nước nhà thống nhất, anh ra quân rồi về biên tập thơ ở tuần báo Văn nghệ. Tôi biên tập ở Tạp chí Văn nghệ Quân đội nên chúng tôi có điều kiện gặp nhau nhiều lần, phần lớn là trao đổi bài vở.

Làm biên tập ở báo Văn nghệ chừng hơn chục năm, anh chuyển về công tác ở Hội Nhà văn, sau lại chuyển sang làm Tổng Biên tập Tạp chí Diễn đàn Văn nghệ. Hình như trong cuộc đời mình, Phạm Tiến Duật chưa tìm được một việc làm thích hợp, trừ thời gian làm thơ ở chiến trường. "Ở không yên ổn, đứng không vững vàng" là cảm giác của tôi về anh khi anh ở các cơ quan.

Sau thời gian dẫn chương trình dành cho người cao tuổi trên Ðài Truyền hình Việt Nam, anh lâm bệnh hiểm nghèo. Cậu bé Trần Ðăng Khoa khi thấy mẹ ốm đã suy nghĩ: "Nắng mưa từ những ngày xưa/Lặn trong người mẹ bây giờ chưa tan", thế thì nghe tin anh mắc bạo bệnh, làm sao tôi không nghĩ đến những vùng rừng  Trường Sơn Ðông, Trường Sơn Tây đầy chất độc hóa học của giặc mà anh từng lăn lộn, và ai có thể bảo đảm rằng, căn bệnh này không liên quan đến những thứ đó? Ra vào viện mấy lần, sức khỏe mỗi ngày một yếu, nhưng anh vẫn thường xuyên quan tâm đến các vấn đề văn học.

Hồi cuối tháng 8 năm nay, sau khi Tuần báo Văn nghệ in bài nghiên cứu của tôi với nhan đề Nguyễn Du không như thế để đi đến kết luận rằng Văn tế sống hai o gái Trường Lưu không phải của Nguyễn Du. Sau bài báo đó, đã có nhiều nhà thơ, nhà văn, nhà nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp chúc mừng tôi và anh là người đầu tiên gọi điện bộc bạch sự đồng tình của mình sớm nhất.

Anh nói, anh cũng nghĩ như thế, mặc dù thời đi học nghe các thầy dạy rằng đó là của Nguyễn Du, là học sinh, anh phải nghe nhưng không tin, nên anh cảm ơn tôi vì tôi đã nói hộ cho anh.

Tôi thương anh vì bệnh đã nặng, nói rất khó khăn, thế mà anh nói khá dài, đầy vẻ xúc động. Cuối tháng 10, tôi đến thăm anh ở Bệnh viện T.Ư Quân đội 108, đúng hôm anh tỉnh táo khác thường. Trước đó một tuần, anh đã vào cơn nguy kịch thế mà hôm ấy anh vẫn vui vẻ ngồi ăn cơm và chụp ảnh kỷ niệm với mấy bạn thơ đến thăm. Cái bệnh nó vốn thế, nó hay xỏ xiên, lừa người, thỉnh thoảng cho người ta lóe lên hy vọng sống, dù nó biết rõ mười mươi kết cục là như thế nào. Nói năng khó khăn nhưng anh cố nhắc lại ý kiến về bài báo của tôi và anh muốn tôi viết về một vài kỷ niệm giữa anh và tôi.

Thế là anh đã hiểu cái mệnh của mình rồi. Tôi biết vậy mà càng thấy thương anh. Và khi tôi ngồi viết những dòng này thì anh - Phạm Tiến Duật - người lĩnh xướng của dàn thơ chống Mỹ, đã đi xa. Xin được có đôi dòng vĩnh biệt anh và mãi nhớ về anh!

Có thể bạn quan tâm