Về việc cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của tòa án nước ngoài

Điều kiện áp dụng

Thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài (BA, QĐDSCTANN), quyết định của trọng tài nước ngoài, trước đây được quy định tại hai văn bản là: Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam BA, QĐDSCTANN có hiệu lực từ 01-7-1993; Pháp lệnh công nhận tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài có hiệu lực từ 01-01-1996.

Tòa án Việt Nam áp dụng thủ tục này không phải để giải quyết việc tranh chấp mà chỉ đối chiếu với các điều kiện, chủ yếu là quy định về thủ tục tố tụng để công nhận và cho thi hành BA, QĐDSCTANN hoặc Trọng tài nước ngoài.

Trong BLTTDS, phần này được quy định tại Phần thứ sáu, từ Chương XXVI đến Chương XXIX với 33 điều luật. Theo đó, bản án quyết định dân sự được quy định tại Khoản 1 Điều 342 là: Bản án, quyết định về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; Quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính; bản án quyết định khác mà pháp luật Việt Nam coi là BA, QĐDS. Đối với quyết định của Trọng tài nước ngoài được quy định tại Khoản 2 Điều 342 là quyết định được tuyên ở ngoài lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của trọng tài nước ngoài.

Không phải bản án, quyết định dân sự của Tòa án hoặc quyết định của Trọng tài của bất kỳ nước nào cũng có thể được Tòa án Việt Nam xem xét, công nhận mà phải là Tòa án của nước mà Việt Nam và nước đó đã ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề này.

Ngoài ra, BLTTDS còn có thêm một quy định mở đối với vấn đề này, đó là bản án, quyết định của Tòa án hoặc quyết định của Trọng tài cũng có thể được tòa án Việt Nam xem xét trên nguyên tắc "có đi có lại" mà không đòi hỏi Việt Nam và nước đó phải ký kết hoặc gia nhập điều ước quốc tế về vấn đề đó. Bản án, quyết định có yêu cầu tại Việt Nam chỉ được xem xét giải quyết ở thời điểm gửi đơn khi: Cá nhân phải thi hành cư trú, làm việc tại Việt Nam; Cơ quan tổ chức phải thi hành có trụ sở chính tại Việt Nam.

Thủ tục xét đơn yêu cầu

Đương sự có đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Vệt Nam BA, QĐDSCTANN hoặc quyết định của trọng tài nước ngoài phải nêu rõ họ tên, địa chỉ nơi cư trú hoặc trụ sở chính của bên được thi hành và bên phải thi hành. Trong trường hợp bên không phải thi hành không có nơi cư trú hoặc không có trụ sở chính tài Việt Nam, thì phải nêu thêm địa chỉ cụ thể tài sản có liên quan đến việc thi hành bản án, quyết định.

Cùng với đơn, đương sự phải gửi kèm các loại giấy tờ: Bản sao hợp pháp, BA, QĐDSCTANN; Văn bản xác nhận bản án, quyết định đó có hiệu lực pháp luật nhưng chưa hết thời hiệu thi hành; Nếu trong bản án không thể hiện nội dung cần thi hành tại Việt Nam thì phải kèm thêm văn bản xác nhận về việc cần thi hành tại Việt Nam; Văn bản xác nhận đã gửi cho người phải thi hành bản sao bản án, quyết định đó; Nếu trong phiên tòa bên phải thi hành quyết định vắng mặt thì phải có văn bản xác nhận họ đã được triệu tập hợp lệ.

Đối với đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Vệt Nam quyết định của trọng tài nước ngoài, trong trường hợp không quy định tại điều ước quốc tế thì khi gửi đơn, đương sự cần kèm theo bản sao hợp pháp quyết định của trọng tài nước ngoài và bản sao hợp pháp về thỏa thuận trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể được thể hiện trong điều khoản của hợp đồng hoặc xảy ra sau khi phát sinh tranh chấp đều được chấp nhận.

Tất cả những tài liệu mà đương sự nộp yêu cầu công nhận và cho thi hành BA, QĐDS tại Việt Nam đều phải được dịch ra tiếng Việt và được công chứng, chứng thực hợp pháp. Hồ sơ này đương sự không nộp trực tiếp cho Tòa án mà gửi cho Bộ Tư pháp của Việt Nam. Trong thời hạn bảy ngày kể từ ngày nhận hồ sơ, Bộ Tư pháp phải chuyển hồ sơ sang cho Tòa án. Chỉ có Tòa án cấp tỉnh mới có thẩm quyền sơ thẩm đối với loại việc này. Trong thời hạn ba ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ Tòa án có thẩm quyền thụ lý và báo cho VKS cùng cấp biết. Trong thời gian nghiên cứu hồ sơ, Tòa có quyền yêu cầu đương sự giải thích những điểm chưa rõ trong hồ sơ. Văn bản yêu cầu và văn bản trả lời đều phải gửi qua Bộ Tư pháp.

Thời hạn xét đơn yêu cầu

Khoản 2 Điều 353 BLTTDS quy định thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành BA, QĐDS tại Việt Nam là bốn tháng; trong trường hợp có yêu cầu giải thích, thời hạn này được kéo dài thêm hai tháng. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu công nhận quyết định của trọng tài nước ngoài là hai tháng; trong trường hợp có yêu cầu giải thích, thời hạn này được kéo dài thêm hai tháng.

Trong thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu, Tòa án phải ra một trong ba loại quyết định: Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu; Đình chỉ việc xét đơn yêu cầu và trả lại hồ sơ cho Bộ Tư pháp; mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Trong thời hạn một tháng, kể từ ngày có quyết định mở phiên họp, Tòa án phải mở phiên họp. Thời gian để VKS cung cấp nghiên cứu hồ sơ là 15 ngày trước ngày mở phiên họp. Đối với thủ tục xét đơn công nhận quyết định của trọng tài là 20 ngày kể từ ngày có quyết định mở phiên họp. Thời gian để VKS cùng cấp nghiên cứu hồ sơ là 10 ngày.

Trong các phiên họp loại việc này, VKS tham gia là quy định bắt buộc. Thành phần Hội đồng xét đơn gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán giữ vai trò chủ tọa. Hội đồng xét đơn chỉ cần triệu tập đối với người phải thi hành. Trong trường hợp Tòa công nhận và cho thi hành BA, QĐDSCTANN thì phải ra quyết định. Nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định; nếu đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Đối với VKS cùng cấp thời hạn kháng nghị là 15 ngày kể từ ngày Tòa ra quyết định, đối với VKSTC, thời hạn này là 30 ngày.

Thủ tục xét không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài

Cũng trong Phần thứ sáu, BLTTDS còn quy định một thủ tục liên quan đến BA, QĐDSCTANN là việc xét không công nhận nó. Đơn yêu cầu xét không công nhận đương sự chỉ cần nêu họ, tên, địa chỉ của người có đơn yêu cầu và nội dung yêu cầu. Tài liệu gửi kèm trong đơn yêu cầu không công nhận gồm bản sao hợp pháp BA, QĐDS và các giấy tờ khác chứng minh yêu cầu của mình là có căn cứ. Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu không công nhận và cho thi hành BA, QĐDS tại Việt Nam là bốn tháng; trong trường hợp có yêu cầu giải thích, thời hạn này được kéo dài thêm hai tháng.

Thành phần Hội đồng xét đơn gồm ba Thẩm phán, trong đó có một Thẩm phán giữ vai trò chủ tọa. Hội đồng xét đơn yêu cầu có quyền ra một trong hai quyết định: Không công nhận BA, QĐDSCTANN; Bác đơn yêu cầu không công nhận. Nếu không đồng ý với phán quyết của Tòa án, đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày ra quyết định; nếu đương sự vắng mặt là 15 ngày kể từ ngày nhận được quyết định. Đối với VKS cùng cấp, thời hạn kháng nghị là 15 ngày kể từ ngày Tòa ra quyết định, đối với VKSTC, thời hạn này là 30 ngày.

Có thể bạn quan tâm