Về thời hiệu thừa kế hiện nay

Mâu thuẫn về thời hiệu

Thời hiệu thừa kế được quy định tại Điều 648 Bộ luật Dân sự (BLDS): "Thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế là mười năm, kể từ thời điểm mở thừa kế".

Kể từ thời điểm mở thừa kế và trong thời hạn mười năm những người thừa kế có quyền khởi kiện yêu cầu tòa án chia di sản theo di chúc hoặc theo pháp luật, công nhận di chúc, truất quyền thừa kế của người thừa kế khác, công nhận là người thừa kế theo pháp luật... Hết mười năm những người thừa kế không còn các quyền trên, cho nên nếu họ khởi kiện đến tòa án thì tòa án sẽ không thụ lý vụ kiện. Vậy di sản đó được xử lý như thế nào? Chúng ta có thể giả thiết các trường hợp xảy ra như sau:

Trường hợp thứ nhất, sau 10 năm những người thừa kế không yêu cầu chia di sản, và di sản của người chết do một người thừa kế đang quản lý. Nếu trường hợp này chỉ có một người thừa kế, thì di sản thuộc quyền sở hữu của người thừa kế đó là hợp tình. Tuy nhiên, về mặt lý thì dựa trên căn cứ nào mà người thừa kế đang quản lý di sản có quyền sở hữu đối với di sản đó, kể cả di sản là động sản. Theo quy định về thời hiệu thì chính người thừa kế đó cũng mất quyền khởi kiện, do đó họ là người chiếm hữu ngay tình.

Vì vậy, theo quy định của Điều 255 BLDS, nếu di sản là động sản thì họ có quyền sở hữu, nhưng nếu là bất động sản thì phải sau 30 năm, người thừa kế đó mới có quyền sở hữu. Vậy, trong khoảng thời gian họ chiếm hữu chưa đến 30 năm thì bất động sản sẽ là không có chủ sở hữu, do đó theo Điều 247 BLDS (xác lập quyền sở hữu đối với vật vô chủ, vật không xác định được ai là chủ sở hữu) thì bất động sản đó thuộc Nhà nước. Theo logic này sẽ không phù hợp với thực tế cuộc sống hiện nay. Bởi vì, tất cả những việc thừa kế mở trước Pháp lệnh thừa kế đều đã hết thời hiệu, những người thừa kế nào đang quản lý nhà đất của người chết đều phải chuyển giao cho Nhà nước.

Trường hợp thứ hai, việc thừa kế đã hết thời hiệu 10 năm, di sản đang thuộc quyền quản lý của người quản lý di sản theo di chúc hoặc của người thuê, thì di sản này thuộc quyền sở hữu của ai? Trường hợp này thời hiệu thừa kế đã hết do đó những người thừa kế không có quyền yêu cầu tòa án chia di sản, cho nên không còn quyền yêu cầu người đang quản lý di sản phải trả lại di sản cho mình.

Ngược lại, theo quy định của Điều 255 BLDS người quản lý di sản chưa có quyền sở hữu đối với tài sản đó. Bởi vì, kể từ ngày hết thời hiệu thừa kế thì hành vi của người quản lý di sản sẽ là không có căn cứ ngay tình, cho nên họ phải chiếm giữ 10 năm tiếp theo thì họ mới có quyền sở hữu. Vậy, sau khi hết thời hiệu, theo điều 247 BLDS, thì di sản là bất động sản trở thành tài sản không có chủ sở hữu, cho nên sẽ thuộc Nhà nước. Nếu di sản là động sản thì người quản lý di sản sẽ được coi là người phát hiện ra tài sản vô chủ và sẽ có quyền sở hữu đối với di sản đó, vấn đề này trái với Điều 255 BLDS.

Từ những phân tích trên cho thấy Điều 255 BLDS và Điều 648 BLDS trái ngược nhau. Vì vậy, Nhà nước cần phải điều chỉnh lại về thời hiệu xác lập quyền sở hữu và thời hiệu thừa kế phải tương thích nhau (giống nhau).

Hướng dẫn cũng chưa phù hợp

Hiện nay, các việc về thừa kế mở trước năm 1992 nay đã hết thời hiệu, nếu nay có tranh chấp thì Tòa án không thụ lý giải quyết. Vậy, Nhà nước xử lý di sản đó thế nào? Công nhận quyền sở hữu của người thừa kế đang quản lý di sản hay thu hồi tài sản không có chủ sở hữu? Để giải quyết bất cập trên Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã ban hành Nghị quyết số 02/2004/NQ-HĐTP ngày 10-8-2004, tại điểm 2.4 không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế.

a. Trường hợp trong thời hạn mười năm kể từ thời điểm mở thừa kế mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về quyền thừa kế và có văn bản cùng xác nhận là đồng thừa kế hoặc sau khi kết thúc thời hạn mười năm mà các đồng thừa kế không có tranh chấp về hàng thừa kế và đều thừa nhận di sản do người chết để lại chưa chia thì di sản đó chuyển thành tài sản chung của các đồng thừa kế. Khi có tranh chấp và yêu cầu tòa án giải quyết thì không áp dụng thời hiệu khởi kiện về quyền thừa kế, mà áp dụng các quy định của pháp luật về chia tài sản chung để giải quyết...

Trong thực tế có rất nhiều trường hợp sau khi mở thừa kế hàng mấy chục năm sau đó do mâu thuẫn trong gia đình hoặc di sản từ giá trị nhỏ nhưng do biến động của giá cả thị trường, cho nên giá trị di sản tăng lên quá cao gấp hàng trăm lần so với thời điểm mở thừa kế và những người thừa kế không hòa giải được, nên phát sinh mâu thuẫn vì vậy họ yêu cầu tòa án chia di sản. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết 02 thì trường hợp này tòa án không chia thừa kế mà chia tài sản chung của những người thừa kế. Như vậy, vô hình trung tòa án đã công nhận quyền sở hữu của những người thừa kế đối với di sản kể từ thời điểm mở thừa kế, và như vậy, việc quy định về thời hiệu thừa kế không có ý nghĩa gì nữa. Bởi vì tất cả những việc thừa kế đã quá mười năm, theo nguyên tắc thời hiệu đã hết, và những người thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật mất quyền khởi kiện chia di sản.

Tuy nhiên, theo hướng dẫn của Nghị quyết 02 thì họ yêu cầu chia tài sản chung, vậy căn cứ nào mà tòa án công nhận là tài sản chung của các đồng thừa kế. Theo quy định tại Điều 255, BLDS quyền sở hữu phát sinh khi quyết định của tòa án chia tài sản có hiệu lực pháp luật. Vậy với trường hợp trên trong thời gian mười năm tòa án chưa chia di sản, thì tại sao lại phát sinh quyền sở hữu chung. Như vậy, hướng dẫn của Nghị quyết 02 không phù hợp với các quy định của luật dân sự, hay nói cách khác là trái luật.

Có một căn cứ mà tòa án hoàn toàn có quyền chia di sản và giải quyết các vấn đề về thừa kế mặc dù thời hạn đã quá mười năm thì tại sao tòa án lại không hướng dẫn? Theo Điều 171 BLDS quy định về bắt đầu thời hiệu khởi kiện:

1. “Thời hiệu khởi kiện bắt đầu lại trong các trường hợp sau:

a...

b...

c. Các bên tự hòa giải với nhau.

Như vậy, sau khi hết thời hiệu, mà các bên hòa giải với nhau về các quyền thừa kế thì thời hiệu khởi kiện được bắt đầu lại, kể từ khi họ hòa giải xong. Những trường hợp này tòa án có quyền thụ lý và tiếp tục giải quyết các vụ thừa kế đã hết thời hiệu ban đầu.

Tóm lại, do các quy định của pháp luật về thời hiệu bất cập với các quy định về xác lập quyền sở hữu, cho nên Tòa án nhân dân tối cao phải ban hành văn bản hướng dẫn là cần thiết. Tuy nhiên, hướng dẫn như Nghị quyết 02 thì chưa giải quyết bất cập về thời hiệu, vì vậy cần phải sửa đổi các quy định của Bộ luật Dân sự về thời hiệu thì mới giải quyết dứt điểm khiếm khuyết đó.

Có thể bạn quan tâm