Những biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự là những biện pháp cưỡng chế được áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc trong một số trường hợp khác còn áp dụng đối với người chưa bị khởi tố nhằm ngăn chặn hành vi nguy hiểm của họ, ngăn ngừa họ bỏ trốn, tiếp tục phạm tội hoặc có hành động khác cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án. Những biện pháp ngăn chặn là một trong những "công cụ" hữu hiệu để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng có hiệu quả, đáp ứng được kịp thời yêu cầu đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm.
So với BLTTHS 1988, chế định những biện pháp ngăn chặn trong BLTTHS 2003 có những điểm sửa đổi, bổ sung cơ bản như sau:
Về biện pháp bắt người
So với BLTTHS 1988, BLTTHS 2003 thu hẹp diện những người có quyền ra lệnh bắt, theo đó: Trưởng Công an cấp huyện, Phó Trưởng Công an cấp huyện; thẩm phán TAND cấp tỉnh trở lên được phân công chủ tọa phiên tòa không có quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam. Thay vào đó Luật bổ sung: Thủ trưởng cơ quan điều tra cấp huyện; thẩm phán giữ chức vụ chánh tòa, phó chánh tòa phúc thẩm TANDTC, Hội đồng xét xử có thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam.
Theo khoản Điều 80 BLTTHS 2003 thì những người có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam là:
- Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân (VKSND) và Viện kiểm sát Quân sự (VKSQS) các cấp;
- Chánh án, Phó Chánh án TAND và VKSQS các cấp;
- Thẩm phán giữ chức vụ Chánh tòa, Phó Chánh tòa phúc thẩm TANDTC, Hội đồng xét xử;
- Thủ trưởng, phó thủ trưởng cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được VKS phê chuẩn trước khi thi hành.
Về căn cứ bắt người trong trường hợp khẩn cấp tại Điều 81 (K1) BLTTHS 2003 không có gì mới so với BLTTHS 1988, nhưng có bổ sung quy định cụ thể về việc kiểm sát việc bắt khẩn cấp của VKS nhằm tránh việc bắt oan, sai. Theo đó, Luật bổ sung: "VKS phải kiểm sát chặt chẽ việc bắt khẩn cấp quy định tại Điều này. Trong trường hợp cần thiết, VKS phải trực tiếp gặp, hỏi người bị bắt trước khi xem xét, quyết định việc phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn.
Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị xét phê chuẩn và tài liệu liên quan đến việc bắt khẩn cấp, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn. Nếu VKS quyết định không phê chuẩn thì người đã ra lệnh bắt phải trả tự do ngay cho người bị bắt" (đoạn 2,3 k4 Điều 81).
So với Điều 65 BLTTHS 1988, Điều 83 BLTTHS 2003 có bổ sung những việc cụ thể cần làm sau khi nhận người bị bắt theo quyết định truy nã như sau:
"Sau khi nhận người bị bắt, cơ quan đã ra quyết định truy nã phải ra ngay quyết định đình nã. Trong trường hợp xét thấy cơ quan đã quyết định truy nã không thể đến nhận ngay người bị bắt thì sau khi lấy lời khai, cơ quan điều tra nhận người bị bắt phải ra ngay quyết định tạm giữ và thông báo ngay cho cơ quan điều tra đã ra quyết định truy nã biết.
Sau khi nhận được thông báo, cơ quan đã ra quyết định truy nã có thẩm quyền bắt để tạm giam phải ra ngay lệnh tạm giam và gửi lệnh tạm giam đã được VKS cùng cấp phê chuẩn cho cơ quan điều tra nhận người bị bắt.
Về tạm giữ
BLTTHS 2003 có bổ sung một số vấn đề cụ thể sau:
- Bổ sung một chủ thể có quyền ra quyết định tạm giữ là chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển;
- Bổ sung thời hạn gửi lệnh tạm giữ cho VKS và việc kiểm sát tạm giữ của VKS cùng cấp: "Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi ra quyết định tạm giữ, quyết định tạm giữ phải được gửi cho VKS cùng cấp".
- Bổ sung quy định về việc kiểm sát gia hạn tạm giữ: "Trong thời hạn 12 giờ, kể từ khi nhận được đề nghị gia hạn tạm giữ và tài liệu liên quan đến việc gia hạn tạm giữ, VKS phải ra quyết định phê chuẩn hoặc quyết định không phê chuẩn" (khoản 2 Đ87).
Về biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú; bảo lãnh; đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm (Đ91; 92; 93)
So với quy định tại BLTTHS 1988, các quy định này trong BLTTHS 2003 có bổ sung các căn cứ, thẩm quyền, thủ tục áp dụng nhằm tăng cường tính khả thi và hiệu quả của các quy định đó. Cụ thể như sau:
- Đối với biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, Luật bổ sung điều kiện: "... được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng..." (khoản 1 Đ91); bổ sung thủ tục "người ra lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú phải thông báo về việc áp dụng biện pháp này cho chính quyền xã, phường, thị trấn nơi bị can, bị cáo cư trú và giao bị can, bị cáo cho chính quyền xã, phường, thị trấn để quản lý, theo dõi họ. Trong trường hợp bị can, bị cáo có lý do chính đáng phải tạm thời đi khỏi nơi cư trú thì phải được sự đồng ý của chính quyền xã, phường, thị trấn nơi người đó cư trú và phải có giấy phép của cơ quan đã áp dụng biện pháp ngăn chặn đó" (khoản 2 Đ91).
- Đối với biện pháp bảo lãnh: Luật bổ sung căn cứ áp dụng là: "Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị can, bị cáo (khoản 1 Đ92); bổ sung điều kiện của người nhận bảo lãnh "cá nhân nhận báo lĩnh cho bị can, bị cáo phải là người có tư cách, phẩm chất tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Việc bảo lãnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Đối với tổ chức nhận bảo lãnh thì việc bảo lãnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức". (Khoản 4 Đ92).
- Đối với biện pháp đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, Luật mở rộng đối tượng được áp dụng: được áp dụng đối với bị can, bị cáo là công dân Việt Nam (trong BLTTHS 1988 chỉ được áp dụng đối với bị can, bị cáo là người nước ngoài); bổ sung căn cứ áp dụng "Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và tình trạng tài sản của bị can, bị cáo" (khoản 1 Đ93)
- Về thẩm quyền áp dụng các biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm, Luật quy định rõ hơn về người có thẩm quyền áp dụng. Theo đó, những người có thẩm quyền bắt bị can, bị cáo để tạm giam, thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa có quyền áp dụng các biện pháp nói trên.
Ngoài ra, Luật còn quy định Biện pháp bảo lãnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm được áp dụng để thay thế biện pháp tạm giam.