Văn tế Anh hùng liệt sĩ của Cách mạng Tháng Tám (1)

Bó mình trong một thể văn cũ, khó khăn và cầu kỳ, tác giả vì có cảm xúc thật nên đã tạo nên nổi những lời có thể cảm động được tới chúng ta. Cái đó chứng tỏ rằng với bất kỳ hình thức nào, người ta cũng viết nên những áng văn có giá trị được, miễn là trong tâm hồn có một rung động sâu xa và thành thực".

Nhân kỷ niệm 65 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, Báo Nhân Dân xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc bài phú đó của nhà văn, GS Vũ Khiêu.

Than ôi

Tám chục năm (2) gió tối mây mờ
Hai mươi triệu hồn xiêu xác rủ
Ðói hôm rét tối, điêu linh (3) dưới ách tham tàn
Cuốc nắng cày mưa, rên xiết bao niềm thống khổ.

Nhớ những đấng anh hùng xưa

Sinh buổi loạn ly
Xót tình máu mủ
Ðội trời đạp đất, nghĩ từng vang một cõi giống nòi xưa
Chỉ núi thề sông, nguyện chẳng thẹn nghìn thu cơ nghiệp (4) cũ
Coi rẻ công danh
Khinh thường uy vũ (5)
Da ngựa dù phong (6)
Cánh bằng quyết vỗ (7)
Cha già mẹ yếu, trăm điều cay cực ra đi
Vợ khóc con theo, bao mối yêu thương đành phụ
Vì giang sơn đà phải như không
Xong ân ái nào ai chẳng có
Xót buổi hoa tàn trăng xế (8), má hồng héo hắt (9) phòng khuya (10)
Thảm khi gió thổi sương buông (11), mái tuyết bơ phờ cửa sổ (12).

Từ đây

Trong mịt mù bốn bể, biết cùng ai đội đá vá trời (13)
Nhưng lận đận một thân, chi xiết nỗi cầu sương điếm cỏ (14)
Trải điều khổ hận đã cam
Kiếm bạn đồng tâm mới khó
Ðời còn chìm trong giấc u mê
Việc những phải dày công giác ngộ
Trèo non lội suối, giấy truyền đơn tung rắc đầy nơi
Ði sớm về khuya, lời diễn thuyết truyền vang mọi chỗ
Phong trào cách mạng đã lên cao
Chính sách hung tàn càng thấy rõ
Hang cùng ngõ hẻm nổi sôi
Quãng vắng canh khuya tập tụ
Giỏ cơm bầu nước (15), ngọt bùi những lúc san chia
Tấm áo manh chiên (16), mưa nắng từng phen ấp ủ
Nằm gai nếm mật (17) tưởng chi ăn
Xót nước thương nhà đâu thiết ngủ.

Cho đến khi

Nanh vuốt đã nhiều
Cánh lông tưởng đủ
Ngọn cờ khởi nghĩa tung bay
Tiếng súng trừ hung dậy nổ
Mảnh trăng vòi vọi, nghìn thanh bảo kiếm lóa mờ sương
Ðỉnh núi chon von, một khúc hùng ca rung chuyển gió
Rừng thương bể lửa xông pha
Ải khói đồn mây thẳng trỏ
Dấn thân cho nước, sống đành vinh, thác cũng là vinh
Vững chí vì dân, thành đã cố, bại càng phải cố
Quân đế quốc ra tay đàn áp, đâm già giết trẻ, hoành hành bao thói dã man
Lũ Việt gian uốn gối phỉnh phờ, nấu thịt nồi da (18) dở dói những trò khủng bố

Xót thay

Bao đấng bỏ mình
Những người xấu số
Tan đàn lạc bạn, bao công trình khói tỏa mây bay
Mắc lưới xa vây, trong khoảnh khắc thịt rơi máu rỏ
Ðiêu linh nọc rắn miệng hùm
Thảm thiết cùm chân xích cổ
Ngày qua tháng lại, rỉ rền bốn bức tường vôi
Ruột héo tim mòn, quằn quại đôi manh ván gỗ
Có buổi đọa đày xa vắng, một vùng nước xám mây đen
Có khi đau ốm ê chề, nửa bát cơm vôi cá bọ (19)
Mịt mù cánh nhạn, ai kẻ thăm nom
Héo hắt mình ve (20), lấy gì tẩm bổ?
Mắc vùng tù tội, đã đành cam cay khổ nhường kia
Thoát lưới ra đi, mới xiết nỗi gian nguy từ đó.
Có người
Bạn với cỏ cây
Ẩn vào rừng rú
Lách bụi leo đồi
Ăn hang ở hố
Khát: tìm lạch suối dòng khe
Ðói: tới ngàn măng ruộng củ
Ngọc lầm than vẻ trắng nào phai (21)
Tùng dầu dãi màu xanh mới tỏ (22).

Có người

Trốn tránh không xong
Hành vi đã lộ
Nương náu quê người
Xót xa đất tổ
Từng trải Anh, Nga, Hoa, Mỹ, mắt đã nhìn xiết đỗi văn minh
Còn đâu Ðinh, Lý, Trần, Lê, lòng tưởng lại càng thêm tủi hổ
Tóc Ngũ Tử (23) bao đêm nhuốm tuyết, rỉ rên hoài hận cả thù chung
Lệ Bao Tư (24) những buổi tuôn mưa, điêu đứng mãi thân gầy mặt võ
Ưu tư chẳng giảm lòng xưa (25)
Gian hiểm thêm bền chí nọ.

Nước nhà khi ấy

Thực dân đã quá tham tàn
Phát-xít còn thêm giết mổ
Bốn phương cửa nát nhà xiêu
Một vẻ mày chau mặt ủ
Ðiêu tàn khắp cả bắc nam
Ðói rét chưa từng kim cổ.

Ðến ngày tháng Tám

Giời như xám lại bởi đau thương (26)
Ðất bỗng bùng lên vì phẫn nộ (27)
Bóng anh hùng rợp cả non sông
Sóng cách mạng ào như bão vũ
Súng dân quân muôn dặm chuyển rung
Cờ đế quốc trăm thành sụp đổ
Nghìn thu phá nếp quân quyền (28)
Một buổi dựng nền dân chủ.

Ngày hôm nay

Một năm thấm thoát (29), tự do này mới biết là vui
Hai buổi tưng bừng (30), hạnh phúc ấy xem chừng đã bõ

Nhưng mà

Ăn quả trồng cây (31)
Vào nhà hỏi ngõ
Buồn bao chiến sĩ đã qua
Nhớ những anh hùng chẳng thọ
Ðốt đỉnh trầm trông hương ngút tỏa, tưởng hồn ai đó một bầu xanh
Kéo ngọn cờ ngắm gió tung bay, xót máu người xưa muôn dặm đỏ
Ðầu non trắng xóa phải là xương?
Mặt cỏ xanh rờn ai đếm mộ?

Hỡi ôi

Không nén hương tàn
Không manh chiếu bó
Chiến trường xông xáo, đã đành khi máu đổ xương rơi
Ngục thất ê chề, riêng thảm nỗi đầu bêu xác bỏ
Xót lúc trăm thây vùi dập, xá gì kẻ dọc người ngang
Xót khi mấy xác buông trôi, phó mặc bèo xô sóng vỗ
Xót buổi nằm khô ngục tối, nắm xương tàn thảm thiết đêm mưa
Xót phen chết rũ quê người, manh ván mỏng hững hờ hàng phố
Vợ con đâu tá, buổi rã rời, bãi vắng thây ma?
Hồn phách về đâu, lúc não ruột, rừng khuya tiếng cú?

Lũ chúng tôi nay

Khó vuốt lòng đau
Khôn cầm lệ nhỏ
Tưởng gian lao trăm mối buồn thương
Trông sự nghiệp muôn phần ngưỡng mộ.

Thôi thì thôi

Ngoảnh nhìn Tổ quốc âu đã an vui
Ðoái tưởng đồng bào mong còn ủng hộ.

Ðể sao cho

Trường kiến thiết kề vai sát cánh, tình thân yêu bền chặt keo sơn
Buổi đấu tranh vững chí bền gan, sức hùng mạnh vang lừng vũ trụ
Nghìn thu rạng rỡ non sông
Muôn dặm tưng bừng cẩm tú.

Ngày kỷ niệm Tổng khởi nghĩa, 1946

----------------

CHÚ THÍCH

(1) Báo Cứu quốc ra ngày 8-9-1946 đã in bài văn tế này.

(2) Năm 1858, thực dân Pháp xâm lược Việt Nam. Ðến năm 1867, chúng chiếm được toàn bộ sáu tỉnh Nam Kỳ, bắt đầu đặt ách đô hộ lên một phần lãnh thổ nước ta. Tính từ khi chúng xâm lược Việt Nam (1858) đến cách mạng Tháng Tám 1945 là khoảng thời gian hơn 80 năm.

(3) Ðiêu linh: Ðiêu là héo rụng, suy bại; Linh là rụng xuống. Ở đây, tác giả dùng theo nghĩa bóng là suy bại, rời ra.

(4) Công nghiệp tức sự nghiệp.

(5) Lời Mạnh Tử: Kẻ đại trượng phu thì "Uy vũ bất năng khuất". Nghĩa là Uy vũ không thể khuất phục.

(6) Da ngựa dù phong: Lấy ý ở câu nói trong sách Hậu Hán thư: Ðại trượng phu đương tử ư cương trường, dĩ mã khỏa thi nhĩ. Nghĩa là: Bậc đại trượng phu nên chết ở giữa chiến trường, lấy da ngựa bọc thây.

(7) Lấy ý ở chữ "Bằng trình": Ðường con chim bằng. Nghĩa bóng: Tiến trình xa rộng.

(8) Hoa tàn là hương sắc không còn. Trăng xế chữ Hán là Nguyệt tà. Trăng xế thì ánh sáng mờ nhạt, không còn vẻ đẹp nữa.

(9) Má hồng héo hắt. Trên nói hoa tàn, trăng xế là "hô" còn má hồng héo hắt là "ứng". Tả nỗi hy sinh của người vợ để chồng đi làm cách mạng để rồi không bao giờ trở về nữa.

(10) Phòng khuya cùng hàm nghĩa phòng không: Tả cảnh người vợ ở một mình nhớ chồng.

(11) Gió thổi sương buông: Nói buổi chiều sớm vào mùa thu, gió se lạnh, sương rơi nhẹ. Cảnh cô quạnh một thân một mình.

(12) Mái tuyết bơ phờ cửa sổ: Tác giả muốn nói tới người mẹ già tựa cửa sổ chờ ngóng con về.

(13) Nữ Oa, nhân vật thần thoại thời cổ đại của Trung Quốc, có sức mạnh phi thường. Trời bị sập một góc, Nữ Oa tự mình đội đá vá trời. Tác giả dùng theo nghĩa bóng: Những công việc lớn lao trong đời người.

(14) Cầu sương điếm cỏ: Tả nỗi long đong của người chiến sĩ Cách mạng, những đêm phải ngủ ở cầu, ở điếm.

(15) Giỏ cơm, bầu nước (chữ Hán Ðan tự, biều ẩm): Nguyên dùng để chỉ cuộc sống bần hàn, đạm bạc của Nhan Hồi, một học trò giỏi của Khổng Tử, rất chăm học, quyết tâm vươn lên rất cao. Ở đây, tác giả dùng với ý tả cảnh sinh hoạt thiếu thốn của người làm cách mạng.

(16) Tấm áo manh chiên: Trên nói giỏ cơm bầu nước là nói tới đồ ăn thức uống, tới đây chỉ cái mặc ban ngày, đồ đắp ban đêm cũng thật đơn sơ, ít ỏi.

(17) Nằm gai nếm mật: Nằm trên gai nhọn, nếm mật đắng. Thời Ðông Chu, nước Việt bị Ngô diệt. Vua nước Việt là Câu Tiễn bị bắt làm tù binh, phải chịu mọi nỗi khổ sở, nhục nhằn. Sau, vua nước Ngô là Phù Sai thả cho Câu Tiễn về nước. Câu Tiễn quyết rửa thù, thường nằm trên đống củi gai, tránh xa nơi êm ấm, thường nếm mật đắng, xa miếng ăn ngon để rèn luyện tinh thần, chịu đựng gian khổ, mài sắc ý chí phấn đấu. Sau hai mươi năm trời tích cực chuẩn bị lực lượng về mọi mặt, Câu Tiễn xuất binh đánh bại quân Ngô; Phù Sai tự sát.

Ở đây, tác giả dùng với ý chỉ sự chịu đựng gian khổ để quyết chí mưu đồ việc lớn.

(18) Nấu thịt nồi da: Lấy da thú rừng làm nồi, cắm cọc căng bốn góc, đổ nước, cho thịt vào, đốt lửa để nấu: Chỉ cảnh anh em một nhà, một nước chém giết lẫn nhau.

(19) Cơm vôi, cá bọ: Gạo thổi cơm lâu ngày để mốc lên, khi nấu cơm ăn, bã tựa bã vôi, không còn chất gì cả. Cá khô để lâu ngày, bị ẩm thấp, ruồi nhặng đậu vào đẻ trứng, hóa giòi bọ. Tả cảnh sống của các chiến sĩ cách mạng trong nhà tù đế quốc.

(20) Mình ve: Người gầy như xác con ve sầu, chỉ còn da bọc xương.

(21) Ngọc lầm than vẻ trắng nào phai (thoát ý từ câu trong Tây Minh: Bần tiện ưu thích, dung ngọc nhữ ư thành dã): Nghĩa là: Có trải qua cảnh nghèo hèn, lo lắng, chất ngọc trong người anh ta mới sáng được. (22) Tùng dầu dãi màu xanh mới tỏ: Người chiến sĩ cách mạng giống như cây tùng ấy, càng dầu dãi phong sương, càng trải qua gian nan thử thách mới tỏ rõ được phẩm chất của mình.

(23) Ngũ Tử Tư, tên thật là Ngũ Viên, người nước Sở, thời Ðông Chu. Vua Sở là Bình Vương giết cha và anh của Ngũ Viên là Ngũ Xa và Ngũ Thượng. Ngũ Viên uất ức, chốn sang nước Ngô, quyết chí trả thù cho cha và anh. Khi tới cửa Chiêu quan, quân Ngô canh giữ rất nghiêm ngặt. Ngũ Viên tìm mọi cách mà không thể đi qua được. Trong một đêm lo nghĩ, dằn vặt, đau khổ hết mức, chưa biết tìm ra kế gì để trốn sang Ngô được, sáng dậy, thấy tóc mình đã bạc trắng xóa. Sau này, chính mớ tóc bạc ấy khiến Ngũ Viên khác hẳn trước vì thế ông trốn được qua cửa Chiêu quan.

(24) Thân Bao Tư là bạn với Ngũ Tử Tư. Thấy Ngũ Tử Tư quyết chí diệt nước Sở, ông bèn viết thư trách Ngũ Tử Tư. Lại nghĩ phu nhân của Sở Bình Vương là con gái của Tần Ai Công, vì thế muốn khôi phục nước Sở, không gì bằng sang cầu viện nước Tần. Bao Ai Tư tới nước Tần. Vua Tần Ai Công chối từ và bảo: Nước Tần hẻo lánh phía Tây, quân hiếm, tướng ít giữ mình không nổi còn giúp được ai?. Thực tế, Tần Ai Công chỉ ham mê tửu sắc, chẳng thiết gì đến chính sự. Thân Bao Tư xin mãi mà Tần nhất định không chịu phát binh. Thân Bao Tư bèn đứng ở trong sân vua Tần, ngày đêm kêu khóc, không lúc nào im tiếng, cứ như thế trong bảy ngày, bảy đêm liền. Vua Tần và triều đình động lòng thương bèn phát binh sang giúp Sở, đánh đuổi quân Ngô, phục hồi đất nước.

(25) Ưu tư chẳng giảm lòng xưa: Dù có khó khăn gian khổ, lo nghĩ đến mấy chăng nữa cũng không dám dẫm đạp lên chí khí, khí phách buổi đầu.

(26) Nỗi đau thương to lớn, khí uất hận dường như bốc lên tận trời khiến màu trời trở thành xám lại.

(27) Sự phẫn nộ lớn khiến cho đất cũng phải chuyển mình bùng lên.

(28) Nghìn thu phá nếp quân quyền: Cuộc cách mạng Tháng Tám 1945 thành công là sự kết thúc nghìn năm chế độ phong kiến ở Việt Nam.

(29) Tác giả viết bài viết này nhân ngày kỷ niệm Tổng khởi nghĩa năm 1946 nên nói: một năm thấm thoắt.

(30) Một ngày có hai buổi: Sáng và chiều, ý nói từ ngày có cách mạng, nhân dân ta được sống yên vui, hạnh phúc trọn vẹn.

(31) Tục ngữ: Ăn quả nhớ kẻ trồng cây.

Có thể bạn quan tâm