Đinh ốc và cỗ máy
Gần bước sang tuổi 90, cựu điệp viên Tư Cang vẫn viết sách và trò chuyện với phóng viên báo chí mỗi dịp Tết đến xuân về, hay những ngày tháng tư lịch sử. Và vì lẽ đó, với tôi cũng không phải một ngoại lệ. Trò chuyện về nhiệm vụ tình báo trong cuộc Tổng tấn công đã đi vào lịch sử dân tộc, ông Tư Cang không đi thẳng vào câu chuyện. Ông cười hiền: "Vắn tắt thế này, công của tôi không nhiều". Nhưng ông là một trong những nhân chứng từng làm việc, từng chứng kiến những bước đi của hoạt động tình báo Miền.
Một phần kỷ niệm và xương máu của đồng đội đã ngã xuống, giờ nhắc lại khiến ông rưng rưng. Ông Tư Cang nhớ lại, đầu năm 1962, ông từ miền bắc trở vào nam gia nhập đoàn quân giải phóng. Lúc đó, tình hình miền nam gặp nhiều khó khăn với những đợt vây ráp của địch. Việc di chuyển cán bộ tình báo từ miền bắc vào miền nam hoạt động cũng gặp rất nhiều khó khăn. Lưới H.63 được thành lập và được ví như một cỗ máy và Tư Cang với vai trò người khởi động, đã vận hành trơn tru cỗ máy này.
Ông kể, công việc đầu tiên là liên lạc với mạng lưới tình báo, đặc biệt là liên lạc nội đô. Tài liệu, tin tức điệp viên có, nhưng liên lạc kém cũng sẽ thất bại. Ai sẽ là người đáp ứng những điều kiện khắt khe, nguy hiểm của nhiệm vụ này? Trong một tài liệu tổng kết về giao thông viên lưới H.63, Nguyễn Thị Ba (còn gọi Ba già) được đánh giá cao về khả năng hoàn thành nhiệm vụ. Chị Ba là đảng viên, bán hàng ở khu vực chợ Bà Chiểu bây giờ, bắt liên lạc với Hai Trung (Phạm Xuân Ẩn) thông qua công chuyện đến cửa hàng của Hai Trung tìm mua một vài thứ đồ vàng giả. Hai Trung lúc đó là ký giả từ Mỹ mới về. Khi có tín hiệu an toàn, tài liệu được trao cho chị Ba để chuyển cho căn cứ hoặc cho liên lạc dự bị. 10 năm làm việc với Hai Trung, chị Ba chưa một lần sai hẹn, chưa một lần sai sót.
Hai Trung, Tám Thảo, Nguyễn Thị Ba hoạt động trong lòng địch nhưng nhận được sự hỗ trợ khá nhiều từ cụm trưởng Tư Cang. Từ năm 1966, ông nhận nhiệm vụ thường xuyên ra vào thành, vừa kiểm soát được điệp viên để hướng dẫn, bồi dưỡng và vừa tiếp tục chỉ đạo. Trong thời gian hoạt động trong thành (1966-1969), ông lấy tên là Khanh. Trong thời gian này, Hai Trung cũng không biết người chỉ huy mình là ai, ông gọi Tư Cang với cái tên Rô-bớt để tránh bị lộ. Tư Cang và Hai Trung sau này đã trở thành bạn thân. Chiến công của Hai Trung thì nhiều. Tư Cang nhớ rất rõ buổi trưa năm 1967, Hai Trung lái xe Renault chở Tư Cang đi trên đường, cụm trưởng báo tin cho điệp viên về tập tài liệu do Hai Trung chuyển ra vừa qua rất có giá trị. Trung ương quyết định tặng thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất cho Hai Trung. Nghe tôi nói vậy, Hai Trung mừng nhưng rồi lại trùng xuống và nói: "Đời người tình báo chẳng biết có cơ hội được đeo huân chương không?".
Chiến tranh qua đi ông vẫn nhớ nhiều những kỷ niệm với các điệp viên trong cụm bấy giờ. Ngày đó tui cũng "lúa lắm". Tui được Hai Trung tư vấn cách ăn mặc hợp mốt, cách mở cửa xe hơi... Tất cả huấn thị đó nhằm giúp tôi không bị nghi ngờ là người do ta cài cắm. Chúng tôi phải luôn luôn bổ khuyết cho nhau để tránh những nghi ngờ của đối phương. Cụm trưởng H.63 còn nhắc đến những chỉ thị, điều nghiên tình trạng của toàn lưới và hướng dẫn bồi dưỡng cho điệp viên những nhiệm vụ, nghị quyết của trên để lấy tài liệu thích ứng với tình hình. Năm 1968, sau hai đợt chiến dịch Mậu Thân, có những điều mà cụm tình báo Miền làm được trong tình huống cực kỳ khó khăn lúc đó là không để tài liệu rơi vào tay giặc, không ai bị bắt và không có đồng chí nào bị hy sinh, lực lượng mật toàn vẹn cho đến ngày đại thắng. "Tuy vậy vẫn còn nhiều điều buồn cho những hy sinh của đồng chí đồng đội mình trong chiến dịch Mậu Thân. Oanh liệt có đấy nhưng mất mát cũng vô chừng" - ông Tư Cang buồn buồn, chia sẻ.
Lần ra bắc "rất khác"...
Ông kể, mùa xuân năm đó, rất nhiều đơn vị khác, cá nhân khác cùng tham gia và cùng lập chiến công, "nhưng với tôi thì sớm hơn một chút" Tháng 11-1973, ông được lệnh ra miền bắc dự khóa bổ túc Chính ủy sư đoàn tại Học viện Chính trị ở Đông Anh, Hà Nội. Đây là lần ra bắc mà tư thế, suy nghĩ khác hẳn những lần tập kết trước. Nó khác lắm, khác rất nhiều bởi triển vọng giải phóng và thống nhất đất nước, có thể nói đã xuất hiện nhiều tín hiệu lạc quan. Tháng 7-1973, Hội nghị lần thứ 21 của Trung ương ra nghị quyết về cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới.
Trong tình hình đó, lực lượng Điệp báo chiến lược được điều chỉnh lại và tổ chức thêm một số mạng lưới hiệu quả khác, trong đó có lưới tình báo Khu 9. Đây là lưới tình báo có cơ sở nằm sâu trong cơ quan cơ mật của Bộ Tổng tham mưu Quân đội Sài Gòn. Những tin tức, tài liệu thu thập được từ nguồn này đều có độ chính xác và giá trị rất cao. Đoàn Biệt động 316 và Đoàn Trinh sát kỹ thuật được thành lập trên chiến trường trọng điểm Nam Bộ, luôn bảo đảm đủ mạnh cả về tổ chức và lực lượng, kịp thời phục vụ đắc lực cho Bộ Tư lệnh Miền trong đợt hoạt động mùa khô năm 1975. Đợt đầu thực hiện Kế hoạch tác chiến năm 1975, chiến thắng Phước Long (ngày 6-1-1975) có ý nghĩa chiến lược, làm cơ sở để Bộ Chính trị hạ quyết tâm thực hiện kế hoạch giải phóng miền nam. Ngày 7-1-1975, Liên đội 7 Trinh sát đã tiêu diệt gọn Trung tâm Thông tin chiến lược của Mỹ ở phía nam Đông Dương, trên núi Bà Đen. Những thắng lợi đó đã làm lung lay tư tưởng, ý chí chiến đấu của địch buộc Mỹ phải chùn bước. Ngày 9-1-1975, Đại sứ quán Mỹ báo cho Tổng thống Nguyễn Văn Thiệu biết: "Việc yểm trợ bằng máy bay Mỹ lúc này chưa được phép".
Nguồn tin tình báo cho biết, Mỹ - ngụy luôn nhận định sai tình hình trên các chiến trường, theo đó, trái với phán đoán của địch ta luôn giành thế chủ động tấn công và thắng lợi. Với những thắng lợi có ý nghĩa then chốt đó, các cụm điệp báo chiến lược tiếp tục áp sát Sài Gòn, triển khai lực lượng trên các hướng tiến công của chiến dịch, cắm sâu vào sào huyệt của địch, liên tục cung cấp thông tin tình báo phục vụ chỉ đạo, chỉ huy tác chiến. Ngày 29-3-1975, Bộ Chính trị hạ quyết tâm "hoàn thành giải phóng Sài Gòn và miền nam trước mùa mưa, vào khoảng tháng 4-1975".
Thành công - "nhiệm vụ bất khả thi"
Ngày 14-4-1975, Bộ Chính trị thông qua Kế hoạch Chiến dịch tiến công giải phóng Sài Gòn -Gia Định, với tên gọi: "Chiến dịch Hồ Chí Minh". Ngày 26-4-1975, cùng với các cánh quân của ta trên từng hướng tiến công chủ yếu, lực lượng Tình báo J22 thâm nhập sâu vào nội đô Sài Gòn. Một số điệp báo vào tác động Tổng thống ngụy Dương Văn Minh đầu hàng. Nhiều cán bộ tình báo trực tiếp vận động quần chúng nổi dậy tham gia chiến dịch.
Cũng giữa tháng 4-1975, tin báo cáo về, khi mặt trận Xuân Lộc còn trong trạng thái giằng co, tinh thần của binh sĩ Mỹ - ngụy tan rã, tuy vậy vẫn có những tin tình báo có giá trị đưa về tòa đại sứ Mỹ cho rằng, quân giải phóng quyết giành thắng lợi hoàn toàn bằng quân sự, rằng sẽ tổng tấn công vào Sài Gòn ngày 19-4-1975. Nhưng Đại sứ Mỹ Gra-ham Ma-tin không tin. Ông ta lập luận rằng, Việt Cộng có tấn công vào Sài Gòn cũng phải đến cuối tháng 6. Theo đó, ông ta duyệt và gạch bỏ tất cả báo cáo nói lên phần nào sự thật về tình hình ngày càng xấu đi của Sài Gòn trong tháng 4.
Khi bàn với Pháp, thống nhất đưa Dương Văn Minh lên làm Tổng thống ngày 23-4, Đại sứ Mỹ G.Ma-tin còn đặt nhiều hy vọng vào một giải pháp chính trị. Theo đó, Dương Văn Minh nói sẽ cử phái viên vào trại Đa-vít trong sân bay Tân Sơn Nhất gặp phái đoàn cách mạng để trao đổi về một giải pháp, đồng thời đi Pa-ri gặp đại sứ của miền bắc để bàn về việc thành lập chính phủ liên hiệp ba thành phần. Phái đoàn bốn người do Dương Văn Minh cử vào trại Đa-vít sáng ngày 29-4 là Nguyễn Văn Điệp, Nguyễn Đình Đầu, Nguyễn Văn Hạnh và Tô Văn Cang. Tại trại Đa-vít, cán bộ ta mời họ ăn chuối của anh em trồng quanh trại rồi giới thiệu cho họ biết tuyên bố của chính phủ ta ngày 26-4. Đến 17 giờ ngày 29-4, tướng Cherles Timmes được CIA giao vai trò liên lạc. C. Timmes gọi dây nói trực tiếp với Dương Văn Minh hỏi về kết quả chuyến đi của đoàn người mà Minh cử vào trại Đavít? Ông Minh trả lời lơ mơ, nói đại diện chính phủ cách mạng từ chối không thảo luận. Tuy vậy, Dương Văn Minh vẫn chưa hết hy vọng, khi còn một đoàn ông Minh cử vào trại Đa-vít thương lượng chưa thấy trở về. Nhưng khi nghe tên ba người được cử đi lần này, gồm: Luật sư Trần Ngọc Liểng, giáo sư Châu Tâm Luân, linh mục Chân Tín đều là những người thời gian qua đã chống lại các chính sách của Hoa Kỳ ở Việt Nam. Timmes chào đơn giản: "Tạm biệt!".
Theo cựu tình báo Tư Cang, công tác tình báo những ngày cuối cùng của tháng 4, xoay quanh nhiệm vụ nắm tình hình nội bộ địch, thuyết phục Dương Văn Minh đầu hàng. Tuy vậy trong những giờ phút cầm cự này, có rất nhiều chỉ thị, tư vấn của Mỹ - ngụy thuyết phục Dương Văn Minh cầm cự giữ chắc 48 tiếng đồng hồ. Tuy vậy, lúc đó Tổng thống Dương Văn Minh đã bộc lộ rõ xu hướng đầu hàng. Ngày 30-4-1975, cùng với sự nổi dậy rộng khắp của quần chúng, trong và ngoài thành phố, lực lượng đặc biệt tinh nhuệ, biệt động, tự vệ và các cánh quân của bộ đội chủ lực đã thần tốc thọc sâu, tiến thẳng vào đánh chiếm các mục tiêu quan trọng trong thành phố Sài Gòn - Gia Định, như: Dinh Độc lập, Bộ Tổng tham mưu, Bộ Tư lệnh các binh chủng, sân bay Tân Sơn Nhất, Đài Phát thanh, Biệt khu Thủ đô và Tổng nha Cảnh sát. Toàn bộ nội các của chính quyền Sài Gòn đã bị bắt, Tổng thống Việt Nam Cộng hòa Dương Văn Minh phải tuyên bố đầu hàng không điều kiện. Cờ cách mạng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập lúc 11 giờ 30 phút ngày 30-4-1975. Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975 toàn thắng.