Từ năm 1991, nền kinh tế nước ta đã có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao liên tục, đến năm 1995 vượt qua tình trạng khủng hoảng kinh tế - xã hội, nền kinh tế phát triển ổn định, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Trải qua 10 năm, kinh tế vẫn tăng trưởng cao liên tục, giá cả ổn định, tiền tệ ổn định, đời sống nhân dân từng bước được cải thiện. Thế rồi đầu năm 2008, đột biến giá cả tăng lên, lạm phát tăng lên, tuy ở mức hai chữ số, nhưng đặt trong bối cảnh kinh tế, đời sống hiện nay thì trở thành hiện tượng nghiêm trọng. Giá cả, lạm phát tăng đang là vấn đề thời sự nóng hổi trong đời sống kinh tế nước ta.
Cũng là giá cả, lạm phát tăng lên, nhưng ở hai thời điểm khác nhau - một thời điểm quản lý tập trung quan liêu bao cấp còn nặng nề, mua bán theo chế độ tem phiếu, còn thời điểm hiện nay, khi đất nước đang đổi mới sâu rộng, thực hiện cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cho nên có những khác biệt to lớn, bên cạnh những điểm giống nhau. Một mặt, chúng ta có thể kế thừa kinh nghiệm giải quyết chống lạm phát của thời kỳ trước, mặt khác lại cần sáng tạo trong điều kiện mới.
Trong cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội trước đây, giá cả tăng liên tục là do cung liên tục thấp hơn cầu, trước hết về lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng (những thứ thiết yếu của đời sống nhân dân), thậm chí cung quá nhỏ mà cầu lại quá lớn. Trái lại, ở thời điểm hiện nay, đối với nhiều mặt hàng, cả lương thực, thực phẩm, hàng tiêu dùng và hàng tư liệu sản xuất, thì cầu lại thường xuyên thấp hơn cung. Thế thì tại sao giá cả lại tăng lên?
Trước hết phải nói đến tác động của thị trường thế giới. Nếu như trước kia, nền kinh tế nước ta là nền kinh tế bao cấp, đóng cửa với bên ngoài, thì ngày nay lại đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực cũng như nền kinh tế toàn cầu.
Chúng ta không đứng ngoài hiện tượng khu vực hóa kinh tế, toàn cầu hóa kinh tế. Nước ta đang là một thành phần của nền kinh tế thế giới. Giá cả một số mặt hàng chiến lược trên thế giới như lương thực, xăng dầu, thép... đã tăng lên, có ảnh hưởng dây chuyền tới giá cả nhiều mặt hàng khác.
Nông dân nước ta được lợi về giá lương thực nhưng lại phải chịu giá cả cao ở đầu vào. Về dầu khí được lợi khi xuất dầu thô, nhưng lại thiệt khi nhập khẩu nhiều xăng dầu. Ðiều quan trọng là mặt bằng giá cả tăng lên, càng tăng lên nhiều khi mà nước ta nhập siêu khá lớn. Một nước như nước ta, khi mà tình trạng nhập khẩu nhiều hàng tiêu dùng và cả hàng tư liệu sản xuất, thì làm cho mặt bằng giá cả càng tăng lên. Ðấy là điều giải thích tại sao một số nước chung quanh ta cũng chịu sự biến động của giá cả của thế giới, nhưng giá cả của họ không tăng nhanh, tăng cao như nước ta.
Một điều nữa, rất đặc thù Việt Nam. Ðó là chuyện đất đai. Ðối với luật pháp nước ta thì đất đai thuộc sở hữu toàn dân. Trên thực tế việc mua đi bán lại quyền sử dụng đất rất phổ biến, về thực chất thế giới vẫn quan niệm đó là mua bán đất. Có thể nói, trong khi hầu hết hàng hóa ở Việt Nam có hiện tượng cung hơn cầu, chỉ duy nhất có đất đai (hay nói đúng hơn là quyền sử dụng đất) là cầu vượt cung, thậm chí quá sức tưởng tượng, làm cho giá đất lên quá xa so với giá trị thật của nó, lên tới mức cao nhất thế giới.
Chúng ta vẫn thường nói đất đai là tư liệu sản xuất quý giá nhất của nước ta. Nhờ nó mà chúng ta bảo đảm an ninh lương thực. Nhờ nó mà chúng ta phát triển các khu công nghiệp, các khu đô thị mới, cùng kết cấu kinh tế hạ tầng. Giá cả thứ tư liệu sản xuất phổ biến và quý giá nhất ấy tăng lên đã kéo theo giá cả tất cả các sản phẩm hàng hóa tăng lên. Ðó là chưa kể đến việc một số kẻ đầu cơ nhà đất, họ lợi dụng tình trạng cầu vượt cung để mua đi bán lại, để đầu cơ, càng đẩy giá đất tăng lên phi mã. Không thể tưởng tượng nổi, ở Hà Nội, ở TP Hồ Chí Minh có giá đến hàng trăm triệu đồng 1 m2 đất, cao hơn nhiều so với giá đất ở Tokyo (Nhật Bản), New York (Mỹ), những nơi từng nổi tiếng giá nhà đất đắt nhất thế giới.
Còn phải nói đến cả sự yếu kém trong quản lý kinh tế nói chung và của chính sách, kế hoạch, điều hành cụ thể nói riêng khiến cho có những lúc, nước ta phải nhập khẩu muối, đường trong khi nông dân phá bỏ nhiều đất trồng mía, nhà máy đường thiếu mía nguyên liệu phải đóng cửa hoặc hoạt động với công suất thấp. Khi cung thấp hơn cầu, thì giá muối, giá đường tăng lên là điều không tránh khỏi. Ðấy không thể đổ lỗi cho thị trường thế giới.
Cả về lý luận và thực tiễn không có gì quá phức tạp, khi giá cả tăng lên nhiều thì nhà nước phải bội chi ngân sách, mà đã bội chi ngân sách thì phải lạm phát. Số tiền cần thiết cho lưu thông không phải là con số bất kỳ, mà nó phụ thuộc vào tổng giá trị hàng hóa lưu chuyển trong xã hội và vòng quay của đồng tiền.
Ðấy là nói một cách tổng quát, chứ chưa nói tới việc phát hành từng loại giấy bạc có mệnh giá nhất định thì cũng không thể tùy tiện và nó cũng nằm trong tổng số tiền cần thiết cho lưu thông. Khi cân đối tiền - hàng thì giá cả ổn định, đồng tiền ổn định. Cân đối giữa tiền và hàng là một cân đối cơ bản trong kinh tế thị trường, khi lượng tiền tệ vượt quá mức cân bằng tiền - hàng thì giá cả tăng lên, cũng có nghĩa sức mua của đồng tiền giảm xuống. Như thế thì giá cả và lạm phát có quan hệ biện chứng: Giá cả tăng làm cho lạm phát tăng lên, ngược lại, lạm phát tăng lên làm cho giá cả tăng lên, chúng là nhân quả của nhau.
Tuy nhiên, cần bình tĩnh, tỉnh táo để có những giải pháp có tính kinh tế phù hợp, tránh lộn xộn. Cần nhận thức rằng lạm phát không phải là hiện tượng quá xa lạ. Trên thế giới có vô số nước lâm vào tình trạng lạm phát. Ngay như các nước Mỹ, Nhật Bản, Ðức, là những nền kinh tế phát triển nhất nhưng hiện nay cũng lạm phát khoảng bốn, năm phần trăm.
Còn các nước đang phát triển thì hầu như tất cả đều lạm phát. Có nước lạm phát để lo chi phí quốc phòng. Có nước lạm phát để đầu tư phát triển công nghiệp, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Có nước lạm phát để cho dân vay, nhằm kích cầu, nâng cao sức mua của xã hội, giải tỏa khủng hoảng thừa hàng hóa. Có nước lạm phát để nuôi bộ máy nhà nước đồ sộ, v.v.
Nước ta cần sáng suốt để nhận ra các tình huống lạm phát đó và điều quan trọng là lựa chọn mức độ hợp lý, phù hợp điều kiện lịch sử cụ thể của mình. Dù sao cũng phải xác định rằng, trong khi đời sống nhân dân ta đạt trạng thái ổn định đã hơn 10 năm nay, lại so sánh với khu vực và thế giới, thì lạm phát hơn 20% là một cú sốc lớn, ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống xã hội, cả công nhân, nông dân và đông đảo người ăn lương (kể cả cán bộ hưu trí), và khó khăn to lớn nhất lại đến với những người nghèo.
Cần chú ý, ở nước ta, bội chi ngân sách không chỉ do giá cả tăng lên, mà còn do chi tiêu ngân sách không hợp lý, thậm chí có phần lãng phí, đó là những chi phí đầu tư vào những công trình chưa thật cần thiết, kém hiệu quả, là những chi phí cho những dự án, những đề tài nghiên cứu khoa học (nhất là về khoa học xã hội, chính trị) chưa thật thiết thực, kém hiệu quả; là những chi phí về hành chính, phô trương hình thức, v.v. mà có thể liệt kê ra mỗi thứ tốn kém hàng chục, hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng. Phải thẳng thắn chỉ ra rằng, có nhiều khoản chi vượt quá khả năng của nguồn thu ngân sách, vượt quá khả năng của nền kinh tế hiện thời.
Có nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều địa phương, trước hết là ngành tài chính, kế hoạch - đầu tư, khoa học - công nghệ chịu trách nhiệm về vấn đề này. Những tín hiệu tương tự như "đèn vàng", "đèn đỏ" về bội chi ngân sách và về lạm phát đáng lẽ phải được ngành tài chính và ngân hàng thông tin kịp thời đến các cấp có thẩm quyền, những người lãnh đạo có thẩm quyền. Ðây là chuyện vài năm gần đây chứ không chỉ ở thời điểm hiện nay.
Nguyên nhân dẫn đến bội chi ngân sách và lạm phát tăng nhanh có nhiều, ít ra cũng cần được mô tả như trên. Vì vậy giải pháp kiềm chế phải đồng bộ, trong đó tiết kiệm phải là quốc sách hàng đầu, bao trùm.
Chưa nói đến yêu cầu gay gắt, nóng bỏng đối với nước ta hiện nay, tiết kiệm vốn đã vô cùng quan trọng trong mọi thời đại. Học thuyết Mác vĩ đại đã từng chỉ ra tiết kiệm là quy luật kinh tế số một của loài người. Có tiết kiệm thì mới có tái sản xuất mở rộng không ngừng, loài người mới tồn tại và có đời sống phát triển không ngừng. Tiết kiệm càng là quy luật thép đối với những nước tiến hành công nghiệp hóa. Không tiết kiệm thì đừng nói đến tích lũy, mà không có tích lũy thì đừng nói tới xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xã hội. Ở thời điểm hiện nay của nước ta, tiết kiệm càng có ý nghĩa trong giải bài toán kiềm chế lạm phát.
Chúng ta thực hành tiết kiệm không chỉ với ý nghĩa cơ bản, lâu dài mà với một ý nghĩa cấp bách, nhằm mục đích trực tiếp quyết định giảm bội chi ngân sách, do đó góp phần quyết định giảm lạm phát. Muốn vậy, trước hết phải tận thu ngân sách theo chính sách và pháp luật hiện hành, ngân sách tăng lên là cơ sở quan trọng để tăng chi đúng đắn; mặt khác phải tính toán chi hợp lý trên cơ sở ngân sách hiện có, tiến tới cân bằng thu chi.
Có thể nói, cân đối thu - chi có vai trò quan trọng trong chính sách tài chính của đất nước.
Tiết kiệm theo yêu cầu giảm bội chi ngân sách bao gồm nhiều mặt, nhưng căn cứ vào thực tiễn cần quan tâm mấy mặt cấp bách sau đây:
Một là, tính toán đầu tư của ngân sách thật cẩn thận, hợp lý, rà soát kỹ càng để đình hoãn những công trình kém hiệu quả, chưa thiết thực theo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và Cương lĩnh xây dựng đất nước. Trước mắt cần giảm bớt đầu tư, giảm bớt tốc độ tăng trưởng kinh tế, cũng có nghĩa làm cho nền kinh tế đỡ "nóng" hơn. Kiên quyết, dũng cảm cắt bỏ những công trình trùng lắp, chồng chéo, chỉ nhằm đơn thuần thu hút vốn đầu tư nước ngoài, làm lãng phí đất đai, tốn kém vốn liên doanh của nước nhà. Ðầu tư tràn lan, phân tán là phần quan trọng trong sử dụng lãng phí ngân sách, bội chi ngân sách.
Hai là, cân nhắc, rà soát lại những dự án, những chương trình, trước hết thuộc lĩnh vực kinh tế - xã hội, kể cả những chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học. Hiện nay, mỗi đề tài tốn kém hàng tỷ, hàng chục tỷ đồng, mỗi dự án, chương trình tốn kém hàng trăm, hàng nghìn tỷ đồng, cộng lại trong mỗi năm, mỗi kế hoạch 5 năm phải chi một số tiền quá lớn mà xã hội ít biết đến, trong đó có những chương trình, những đề tài không thiết thực, hiệu quả sử dụng thấp. Những người, những cơ quan thực hiện chương trình, dự án, đề tài cũng phải đề cao trách nhiệm, tự giác cao độ, không bày ra "nghiên cứu khoa học" theo cách phô trương hình thức để rút tiền ngân sách.
Ba là, triệt để tiết kiệm trong chi tiêu hành chính. Ðối với nước ta, từ lâu chi tiêu hành chính đã là một phần khá lớn, trong chi tiêu ngân sách nhà nước. Tiết kiệm trong lĩnh vực này góp phần to lớn để giảm bội chi ngân sách, giảm lạm phát. Có thể liệt kê một danh mục dài trong chi tiêu hành chính mà tất cả các ngành, các cấp, mọi lúc mọi nơi đều có trách nhiệm thực hành tiết kiệm. Ðó là: bộ máy và biên chế cơ quan; xây dựng và tu bổ, sửa chữa công sở; mua sắm đồ dùng, thiết bị và sử dụng đồ dùng thiết bị; công văn giấy tờ, sử dụng điện, nước; hội họp cùng những chi phí phô trương hình thức; những lễ tân, đình đám; những chuyến công du địa phương và nước ngoài, v.v. Những vấn đề ấy đều cần, song cũng đều phải tính toán hợp lý, triệt để thực hành tiết kiệm, càng phải tránh lãng phí.
Bốn là, tiết kiệm tiêu dùng trong toàn dân, toàn xã hội, cả tiêu dùng cá nhân cũng như tiêu dùng sản xuất. Như thế đỡ phải nhập siêu, tiến tới cân bằng xuất - nhập, tốt nhất phấn đấu xuất siêu, làm cho nền kinh tế chịu ảnh hưởng của giá cả thế giới ở mức thấp nhất. Ðiều này liên quan đến giáo dục chính trị, tư tưởng, phong trào thi đua yêu nước, nâng cao ý thức và hiệu quả thực tế của việc cần kiệm xây dựng nước nhà, động viên nhân dân sống phù hợp với trình độ hiện thời của nền kinh tế nước ta.
Năm là, quản lý, điều hành lưu thông tiền tệ tốt hơn, làm sao cho đồng tiền quay vòng nhiều hơn. Muốn thế, phải tăng cường mạnh mẽ việc huy động gửi tiền tiết kiệm. Ðây là một biện pháp tất yếu để kiềm chế lạm phát của bất cứ quốc gia nào; đồng thời giảm đến mức thấp nhất các chi tiêu, thanh toán bằng tiền mặt. Ðiều kiện cho vay và thế chấp cần chặt chẽ để tiền khỏi rơi vào tay những kẻ đầu cơ buôn bán bất động sản và chứng khoán.
Thực hiện tốt một số giải pháp chủ yếu, cấp bách trên đây theo tinh thần tiết kiệm là quốc sách hàng đầu, thì nhất định giá cả, lạm phát được kiềm chế.
Trong cơ chế thị trường, giá cả lên xuống là lẽ bình thường, lạm phát cũng không phải là hiện tượng quá xa lạ, cho nên càng cần bình tĩnh, tỉnh táo trong xử lý. Nền kinh tế nước ta là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, mà một trong biểu hiện của nó là những biến đổi giá cả, lạm phát không tự phát, trái lại giá cả được điều tiết, lạm phát được tiến hành chủ động có lợi cho quốc kế dân sinh. Ðương nhiên, mọi sự quản lý điều hành ấy đều phải tuân theo quy luật kinh tế, quy luật xã hội.
Cuộc chiến đấu trên mặt trận kinh tế, trên thương trường có những thử thách mới. Chúng ta luôn luôn bám sát thực tiễn, tổng kết thực tiễn để nhận thức những vấn đề có tính quy luật, có tính tất yếu, làm cơ sở cho những giải pháp đúng, thì nhất định tình hình sẽ sáng sủa. Những tiến bộ của nền kinh tế nước ta hơn 20 năm đổi mới cùng kết quả bước đầu kiềm chế giá cả, lạm phát những tháng qua, cho thấy khả năng vượt qua khó khăn là hiện thực. Những kẻ xấu trong và ngoài nước lợi dụng những khó khăn trước mắt về kinh tế và đời sống của nhân dân ta để kích động "nổi dậy" chỉ là những kẻ ảo tưởng, ngông cuồng về chính trị.
VŨ HỮU NGOẠN
Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu
chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tư tưởng Hồ Chí Minh