Từ vùng ngập mặn đến Vườn Di sản ASEAN

Vườn quốc gia Xuân Thủy (tỉnh Ninh Bình) nổi bật bởi giá trị sinh thái đặc trưng của vùng đất ngập nước cửa sông ven biển châu thổ sông Hồng.

Vườn quốc gia Xuân Thủy, khu bảo tồn đất ngập nước tiêu biểu của Việt Nam và khu vực.
Vườn quốc gia Xuân Thủy, khu bảo tồn đất ngập nước tiêu biểu của Việt Nam và khu vực.

Năm 2004, Vườn quốc gia Xuân Thủy được UNESCO công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới liên tỉnh ven biển Đồng bằng châu thổ sông Hồng. Năm 2025, nơi đây được chính thức công nhận là Vườn Di sản ASEAN.

Vườn quốc gia Xuân Thủy có tổng diện tích tự nhiên là 7.110,08 ha, vùng đệm là 8.000 ha. Năm 1988, Vườn quốc gia Xuân Thủy chính thức được công nhận là Khu Ramsar đầu tiên của Việt Nam và Đông Nam Á, thứ 409 của thế giới; đánh dấu Việt Nam trở thành thành viên thứ 50 của Công ước Ramsar (Công ước bảo vệ những vùng đất ngập nước có tầm quan trọng quốc tế, đặc biệt như là nơi cư trú của những loài chim nước).

Vườn quốc gia Xuân Thủy có nhiệm vụ bảo tồn hệ sinh thái đất ngập nước điển hình của vùng cửa sông Hồng, các loài động vật, thực vật đặc trưng của hệ sinh thái đất ngập nước, nhất là các loài thủy sinh, các loài chim nước và chim di cư; phục vụ nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và phát triển du lịch sinh thái; xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật, phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học và giáo dục môi trường, phát triển du lịch sinh thái. Vườn đã góp phần phát triển kinh tế-xã hội, tạo nhiều việc làm cho người dân địa phương.

Việc công nhận Vườn quốc gia Xuân Thủy là Vườn Di sản ASEAN có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo tồn nguyên vẹn mẫu chuẩn điển hình hệ sinh thái đất ngập nước khu vực cửa sông ven biển miền bắc Việt Nam, nhất là bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Danh hiệu Vườn Di sản tạo nên “thương hiệu” để thu hút đầu tư dịch vụ du lịch; là cơ hội để đơn vị trao đổi thông tin, học hỏi kinh nghiệm quản lý, bảo tồn và phát huy giá trị giữa các Vườn Di sản trong khối ASEAN.

Vườn quốc gia Xuân Thủy có bảy kiểu hệ sinh thái đặc trưng, trong đó có hệ sinh thái bãi triều lầy có rừng ngập mặn. Rừng ngập mặn tại khu vực có diện tích lớn và sự đa dạng về các kiểu quần xã thực vật và số loài cây ngập mặn. Đây cũng là khu vực có sự xuất hiện và duy trì thường xuyên của bảy kiểu quần xã thực vật và là sinh cảnh sống quan trọng của nhiều loài động vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm.

Sự đa dạng về các loài động vật, nhất là các loài thủy sản, giúp Vườn quốc gia Xuân Thủy trở thành vùng đất ngập nước có năng suất sinh học lớn nhất tại khu vực châu thổ sông Hồng. Đây được coi là ga chim lớn của khu vực phía bắc với 222 loài, thuộc 42 họ của 12 bộ. Trong đợt khảo sát năm 1988 và 1994 quan sát được hơn 20.000 cá thể; mùa xuân năm 1996 quan sát hơn 33.000 cá thể. Vườn quốc gia Xuân Thủy là điểm trú đông thường xuyên của một số loài chim nguy cấp cấp toàn cầu như: Cò mỏ thìa (Platalea minor), Mòng bể mỏ ngắn (Larus saundersi), Choắt lớn mỏ vàng (Tringa guttifer), Rẽ mỏ thìa (Eurynorhynchus pygmeus), Choắt chân màng lớn (Limnodromus semipalmatus).

Các nghiên cứu cho thấy hệ sinh thái rừng ngập mặn tại Vườn quốc gia Xuân Thủy có khả năng tích lũy 14,32 tấn các-bon/ha/năm, trong đó các-bon tồn lưu dưới mặt đất chiếm tỷ lệ hơn 81% tổng giá trị các-bon tích lũy. Vườn có tính độc đáo cao về đa dạng sinh học, nơi đặc trưng có cửa sông, bãi bồi, rừng ngập mặn... là bãi đẻ, nơi nuôi dưỡng và cung cấp nguồn giống của nhiều loài thủy sản, đồng thời là nơi trú ngụ cho nhiều loài chim di cư. Tổng số loài chim được ghi nhận tại Vườn quốc gia Xuân Thủy chiếm 26,18% tổng số loài chim của Việt Nam, trong đó có 32 loài chim nguy cấp, quý, hiếm cấp quốc gia và cấp toàn cầu.

Những năm qua, với sự quan tâm chỉ đạo của các cấp lãnh đạo, sự hỗ trợ của các tổ chức trong nước, quốc tế, cùng sự chung tay của cộng đồng địa phương, công tác quản lý, bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên tại Vườn quốc gia Xuân Thủy đạt được nhiều kết quả tích cực.

Ông Trần Anh Dũng, Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Ninh Bình cho biết: Vườn quốc gia Xuân Thủy được công nhận là Vườn Di sản ASEAN tạo ra những tiềm năng phát triển, đồng thời đặt ra trách nhiệm lớn hơn trong công tác bảo tồn và phát huy các giá trị thiên nhiên quý báu. Để phát huy hiệu quả danh hiệu, tỉnh Ninh Bình tiếp tục chỉ đạo các cơ quan chức năng và các địa phương tập trung tăng cường công tác bảo vệ rừng, bảo tồn hệ sinh thái và đa dạng sinh học, nhất là các loài động, thực vật quý hiếm, các loài chim di cư có giá trị bảo tồn cao; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý, giám sát các hoạt động trong khu vực Vườn quốc gia.

Địa phương tăng cường tuyên truyền, giáo dục về bảo vệ môi trường, nhất là đối với thế hệ trẻ. Các đơn vị chức năng đẩy mạnh nghiên cứu khoa học, hợp tác quốc tế, tăng cường trao đổi kinh nghiệm với các vườn di sản trong khu vực ASEAN. Việc phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn, khai thác hợp lý tiềm năng cảnh quan, góp phần quảng bá hình ảnh thiên nhiên Việt Nam tới bạn bè quốc tế, đồng thời tạo nguồn lực cho công tác bảo tồn lâu dài...

Có thể bạn quan tâm