40 năm Ngày Giải phóng miền nam, thống nhất đất nước

 Từ Tổng hành dinh đến các chiến dịch ngày ấy...

Trung tướng, Phó Giáo sư Lê Hữu Ðức, nguyên Cục trưởng Cục Tác chiến, Bộ Tổng Tham mưu (BTTM) Quân đội nhân dân (QÐND) Việt Nam, nguyên Phó Giám đốc Học viện Quốc phòng, nhà ở phố Ðội Nhân, phường Vĩnh Phúc, quận Ba Ðình (Hà Nội). Trong phòng khách treo nhiều ảnh tư liệu quý về một thời lửa đạn, ông kể chuyện từ Tổng hành dinh đến các chiến dịch ngày ấy...

Ở tuổi 92, dù mái tóc bạc trắng, đi lại nhờ vào chiếc gậy sắt, nhưng Trung tướng Lê Hữu Ðức giọng nói vẫn hào sảng, đôi mắt tinh anh và minh mẫn. 47 năm quân ngũ, ông từng tham gia chiến đấu hàng chục trận trên khắp các chiến trường và vinh dự có thời gian được làm việc tại Nhà D67 (trong khu Hoàng thành Thăng Long, trung tâm Thủ đô Hà Nội). 40 năm trước, đây là "Tổng hành dinh"- phòng họp của Bộ Chính trị và Quân ủy T.Ư, nơi làm việc của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, Ðại tướng Văn Tiến Dũng... lãnh đạo, chỉ đạo quân và dân ta trong Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975.

Tháng 7-1974, đang là Phó Cục trưởng Cục Tác chiến, BTTM-Bộ Quốc phòng (BQP), phụ trách chiến trường miền nam, ông Lê Hữu Ðức cùng chín cán bộ cấp cao của các quân khu, quân chủng, binh chủng được Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng cử sang học tại Học viện Vô-rô-si-lốp (Học viện cao cấp của Hồng quân và Hải quân Liên Xô). Sau sáu tháng học tập, họ trở về nước. "Ngay hôm sau, sáng 21-1-1975, Ðại tướng Văn Tiến Dũng, Tổng Tham mưu trưởng (TTMT) gọi tôi đến nhà riêng, thông báo tình hình địch liên quan đến tác chiến của ta, chủ trương của Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư, Bộ Quốc phòng- Bộ Tổng Tư lệnh (TTL) về việc giải phóng miền nam. Ðại tướng Văn Tiến Dũng trao cho tôi quyết định làm Cục trưởng Tác chiến. Chiều hôm đó, Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, Bộ trưởng Quốc phòng-TTL triệu tập tôi lên và động viên. Sáng 22-1-1975, buổi họp đầu tiên tại Cục Tác chiến, trên cương vị Cục trưởng, tôi nghe các cán bộ Cục báo cáo kế hoạch tác chiến...". Ông Ðức bồi hồi nhớ lại.

Ðầu tháng 3-1975, không khí tại Tổng hành dinh rất sôi động, khẩn trương. Ðại tướng, TTL Võ Nguyên Giáp quyết định thành lập Tổ thường trực theo dõi nắm tình hình trên các chiến trường, mặt trận, điều hành Tổng tiến công và nổi dậy. Tổ thường trực gồm ba người: Ðại tướng Võ Nguyên Giáp, Phó Thủ tướng Chính phủ, kiêm Bộ trưởng Quốc phòng-TTL làm Tổ trưởng; Thiếu tướng Cao Văn Khánh, Phó TTMT và tôi - Ðại tá Lê Hữu Ðức, Cục trưởng Tác chiến là Ủy viên.

Nhiệm vụ của tổ là thường xuyên nắm chắc diễn biến chiến trường, tình hình địch, ta, phát hiện thời cơ giải phóng miền nam để kịp thời báo cáo Bộ Chính trị. Hằng ngày, Tổ thường trực tham gia giao ban Bộ Quốc phòng, do Ðại tướng Võ Nguyên Giáp chủ trì, tại phòng họp BTTM, ngoài ra còn tham gia bốn cuộc họp khác trong ngày: Từ 10 giờ đến 10 giờ 30 phút; từ 14 giờ đến 14 giờ 30 phút; từ 16 giờ 30 phút đến 17 giờ; từ 21 giờ đến 21 giờ 30 phút, tại phòng làm việc của Ðại tướng Võ Nguyên Giáp tại Tổng hành dinh.

Một kỷ niệm đáng nhớ là, trong tháng 3-1975, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy T.Ư, BQP-Bộ TTL (Bộ Thống soái tối cao) tổ chức bốn hội nghị lịch sử tại Nhà D67-Tổng hành dinh. Trong đó, ngày 8-3, cũng tại đây, Bộ Chính trị nghe Bộ TTL báo cáo kế hoạch đánh địch ở Buôn Ma Thuột-do Thiếu tướng Lê Trọng Tấn, Phó TTMT, Tổ trưởng tổ trung tâm báo cáo kế hoạch tác chiến. Báo cáo xong, anh Lê Trọng Tấn nêu vấn đề: "Ðây là một phương án chắc thắng, nhưng bộc lộ ba nhược điểm: Ta dùng Sư đoàn 10 đánh địch ở Ðức Lập. Sư đoàn 10 quen địa bàn chiến trường Tây Nguyên, nhưng lại giao nhiệm vụ đánh địch ở hướng thứ yếu. Sư đoàn 316 vừa từ ngoài bắc cơ động vào, chưa quen địa bàn Tây Nguyên lại giao cho đánh Buôn Ma Thuột-hướng tiến công chủ yếu. Ta phân tán lực lượng, ba sư đoàn lại đánh ba mục tiêu: Sư đoàn 10 đánh Ðức Lập; Sư đoàn 316 đánh Buôn Ma Thuột; Sư đoàn 320 đánh địch ở đường số 14, khi địch từ Plây Cu cơ động theo đường số 14 xuống tăng viện cho Buôn Ma Thuột. Trong khi đó, hướng tiến công chủ yếu ta không có lực lượng dự bị. Anh Lê Trọng Tấn nói: Chúng tôi với Thiếu tướng Lê Ngọc Hiền, Phó TTMT cũng thống nhất như thế. Nếu địch tăng cường lực lượng, thì ta không thể đánh theo phương án này...".

Ngày 11-3-1975, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy T.Ư, BQP-Bộ TTL tổ chức hội nghị lần thứ nhất. Lúc đó, quân ta đã tiêu diệt cơ bản quân địch ở Buôn Ma Thuột, còn lại số ít cố thủ ở khu vực sân bay Hòa Bình... Thiếu tướng Lê Trọng Tấn báo cáo tình hình mặt trận. Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp tóm tắt tình hình và đề xuất: Ta thắng lớn, quân địch bị căng kéo ra, có thể bị gãy bất cứ lúc nào. Không loại trừ địch bỏ Tây Nguyên. Như thế, tình hình sẽ rất khẩn trương... Kết thúc hội nghị, Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp điện ngay cho các chiến trường, thông báo khả năng địch rút khỏi Tây Nguyên và động viên cán bộ, chiến sĩ kiên quyết, triệt để, mưu trí, sáng tạo tiến công địch. Ðồng thời, điện chỉ đạo Ðại tướng Văn Tiến Dũng đánh mạnh các mũi, các hướng trên chiến trường Tây Nguyên, nhất là đánh địch phản kích ở khu vực Sân bay Hòa Bình, Phước An..., buộc địch ở Plây Cu sẽ theo hai con đường: rút từ Plây Cu xuống tăng cường cho Buôn Ma Thuột; hoặc rút theo đường số 7 về Tuy Hòa.

Ngay sau đó, Ðại tướng Văn Tiến Dũng đang ở Tây Nguyên đã điện trực tiếp cho Ðại tá Kim Tuấn, Tư lệnh Sư đoàn 320 yêu cầu đơn vị sẵn sàng đánh địch theo hai phương án trên. "Nếu không đánh được địch rút chạy, chỉ huy Sư đoàn 320 sẽ bị đưa ra Tòa án binh, bị kỷ luật...". Ðúng như dự đoán, khi địch rút chạy theo đường số 7, lực lượng vũ trang tỉnh Phú Yên, Liên khu 5 đã chặn đầu đánh địch, tạo điều kiện để Sư đoàn 320 vận động tới kịp thời tiến công địch trên đường số 7, ở địa bàn Củng Sơn, Cheo Reo. Quân ta đã tiến công tiêu diệt địch, bắt sống 8.000 tên, thu hơn 100 khẩu pháo, gần 100 xe tăng, thiết giáp; trong đó, ta thu được 12 khẩu pháo tự hành 175 (từng được gọi là vua chiến trường)...

Ngày 18-3-1975, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy T.Ư, BQP-Bộ TTL tổ chức hội nghị lần thứ hai. Trên chiến trường, quân ta thắng giòn giã, địch hoàn toàn rút chạy ở Tây Nguyên. Lúc đó, Thiếu tướng Lê Trọng Tấn được trên cử vào Thừa Thiên - Huế (cánh quân hướng đông) làm Tư lệnh Mặt trận Huế - Ðà Nẵng. Do vậy, tại hội nghị, tôi được phép đại diện BTTM báo cáo tình hình và dự kiến xử lý một số tình huống. Giữa hội nghị, nghe tin quân ta thắng trận, Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp phấn khởi: Chúng ta thắng lớn và nhanh quá. Lực lượng hầu như còn nguyên vẹn, khí thế càng cao, còn quân địch bị đánh và tan rã nhanh. Nếu địch tiếp tục bị tan rã nhanh như thế này, khả năng Mỹ đưa quân chủ lực trở lại Việt Nam là khó. Tôi xin thay mặt Quân ủy T.Ư đề nghị Bộ Chính trị cho phép giải phóng miền nam trong năm 1975, chứ không chờ đến năm 1976...".

Ðồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn kết luận: Chúng ta đã có thắng lợi Phước Long, nay lại có thắng lợi toàn diện của Tây Nguyên, chúng ta có đầy đủ điều kiện biến sức mạnh của chúng ta từ một ngày bằng 20 năm, cho nên, Bộ Chính trị, Quân ủy T.Ư có đầy đủ điều kiện quyết định giải phóng miền nam trong năm 1975, không chờ đến năm 1976.

Sau đó, Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp phát biểu: Hướng tiến công cơ bản vẫn là Sài Gòn - Gia Ðịnh; nhưng trước mắt là Huế - Ðà Nẵng.

Ngay sau đó, đồng chí Võ Nguyên Giáp điện cho Quân đoàn 1 lên đường ngay tăng cường cho mặt trận Nam Bộ hai trung đoàn xe tăng, hai trung đoàn pháo binh và ba trung đoàn pháo phòng không.

Ngày 24-3-1975, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy T.Ư, BQP-Bộ TTL tổ chức hội nghị lần thứ ba, tôi được đại diện BTTM báo cáo tình hình các mặt trận. Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp phấn khởi: Chúng ta thắng to quá! Mới một tháng đã tiêu diệt gần hai quân đoàn địch (quân đoàn 1 và 2), giải phóng 12 tỉnh, một phần hai dân số miền nam và lực lượng tương đương một phần hai lực lượng địch bị tiêu diệt.

Ðại tướng TTLVõ Nguyên Giáp phân tích: Ta có đầy đủ khả năng giải phóng miền nam trong tháng tư này. Vì khi giải phóng Huế - Ðà Nẵng, lực lượng ta lớn hơn địch, thế ta mạnh hơn địch, cơ động rất nhanh. Về đường bộ, ngoài đường đông và tây Trường Sơn, ta có thêm đường số 14 và quốc lộ số 1, đường sắt từ Ðà Nẵng đi Quy Nhơn, Vũng Tàu, Sài Gòn, có thêm đường biển. Sau chiến thắng Ðà Nẵng, Quân ủy T.Ư, BQP điều toàn bộ lực lượng Hải quân (từ Tư lệnh, Chính ủy, cơ quan tham mưu của Quân chủng Hải quân) vào Ðà Nẵng. Hằng ngày, ta có hàng trăm đoàn xe ô-tô, xe lửa, máy bay, Hải quân vận chuyển lực lượng, vũ khí, trang bị kỹ thuật, lương thực từ hậu phương lớn miền bắc dốc sức chi viện cho miền nam. Trong khi đó, địch vẫn cho rằng, nếu có giải phóng miền nam cũng phải mất vài ba tháng, vì kiểu cơ động "rùa" của Việt cộng.

Ngày 28-4-1975, tại Tổng hành dinh, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy T.Ư, BQP-Bộ TTL tổ chức hội nghị lần thứ tư. Tôi đại diện BTTM, báo cáo tình hình. Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp tóm tắt và đề xuất Bộ Chính trị: Ta đang thắng giòn giã, lúc này ta nên quyết định giải phóng hoàn toàn miền nam trong tháng tư. Ðồng chí Tổng Bí thư Lê Duẩn kết luận: Hay nhất, tốt nhất là giải phóng miền nam trong tháng 4-1975, chứ không phải chờ đến tháng 5-1975. Các đại biểu đều thống nhất cao.

Sáng 30-4-1975, Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy T.Ư, BQP-Bộ TTL có mặt từ rất sớm theo dõi các mũi, các hướng tiến công vào Sài Gòn. Ðiện thoại liên tục đổ chuông từ các quân khu, quân đoàn, đơn vị. Gần 10 giờ sáng, điện báo về: "Tổng thống Dương Văn Minh muốn thương lượng". Mọi người không ai bảo ai cùng đồng thanh quả quyết: "Còn gì mà thương lượng! Bảo đầu hàng thôi!". Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp lấy bút viết điện ngay cho Bộ Chỉ huy chiến dịch Hồ Chí Minh: Không có vấn đề gì phải thương lượng! Ra lệnh cho Dương Văn Minh đầu hàng vô điều kiện! Phải giải giáp các quân đoàn, sư đoàn đến các đơn vị địa phương quân, dân vệ, giải thể chính quyền của ngụy từ trung ương đến các tỉnh, thành phố, huyện, xã.

Viết xong, Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp đọc cho cả hội nghị nghe. Mọi người "nổ" một tràng pháo tay. Ðiện được chuyển gấp cho Bộ Chỉ huy mặt trận, các Quân khu 7, 8 và các đơn vị tham gia Chiến dịch Hồ Chí Minh. Khoảng hơn 12 giờ trưa ngày 30-4, hội nghị kết thúc, mọi người đang chuẩn bị ra về, Ðại tướng TTL Võ Nguyên Giáp nói: "Giá lúc này còn Bác Hồ thì hạnh phúc biết mấy!". Tất cả mọi người trong hội trường dừng lại, đứng nghiêm. Mọi người đều nhìn lên ảnh Bác Hồ treo ở hội trường. Ai nấy đều xúc động, rưng rưng nước mắt. Vì ai cũng nhớ đến công ơn trời biển của Bác; tấm lòng của Bác đối với nhân dân, nhất là với đồng bào miền nam...

Có thể bạn quan tâm