Từ quan hệ văn hóa - văn chương đến một hướng nghiên cứu - phê bình có triển vọng

1. Lâu nay, từ việc đặt vấn đề cần nghiên cứu các tác phẩm văn chương với tính cách là một (những) sản phẩm tinh thần đa trị, đa chiều, đa tầng nghĩa..., nhiều nhà nghiên cứu - phê bình ở Việt Nam đã không còn thoả mãn với việc khảo sát tác phẩm chỉ bằng các tri thức của lý luận văn học mà cố gắng mở rộng “trường” nghiên cứu thông qua thao tác vận dụng những lý thuyết có khả năng hỗ trợ việc “giải mã” tác phẩm văn chương, sao cho có thể khám phá tác phẩm ngày càng sâu sắc, bản chất hơn, như việc sử dụng Thi pháp học, Phân tâm học, Cấu trúc học... chẳng hạn.

Về những bất cập lý luận - thực tiễn trong tham luận của PGS TS Đỗ Lai Thuý, tôi sẽ phân tích trong một bài viết khác, ở đây, từ sự chưa đồng tình với quan niệm của ông Đỗ Lai Thúy khi cho rằng trong quan hệ qua lại thì “văn hóa chi phối văn học với tư cách là hệ thống chi phối yếu tố, toàn thể chi phối bộ phận” và phương pháp phê bình tiếp cận văn học từ văn hóa “bước đầu có sự thuận lợi của việc đi tìm cái giống nhau ở những cái khác nhau, nhưng sau đó gặp phải sự khó của việc đi tìm cái khác nhau ở những cái giống nhau”, xin được trình bày một số ý kiến riêng.

2. Nói một cách sòng phẳng, ít nhất (?) thì ý tưởng nghiên cứu văn hóa như một hệ thống đã xuất hiện ở Việt Nam trong cuốn sách Cơ sở văn hóa Việt Nam của GS TS Trần Ngọc Thêm xuất bản cách đây hơn mười năm. Bằng tiếp cận hệ thống, GS TS Trần Ngọc Thêm đã tạo dựng nên tiền đề để ông có thể mô tả văn hóa Việt Nam trong tính hệ thống và qua các thành tố cơ bản với những vi hệ đã và đang tồn tại.

Với cách tiếp cận ấy, hiển nhiên quan hệ giữa văn hóa với văn chương là quan hệ giữa hệ thống với yếu tố, giữa toàn thể với bộ phận và theo tôi, tiếp cận văn hóa như một hệ thống rất thuận tiện cho sự mô tả các quan hệ, mô tả nguyên nhân ra đời và sự hiện hữu của các sự vật - hiện tượng văn hóa, song nó dễ đi tới sự bất cập (bất lực?) khi người nghiên cứu muốn bằng (qua) văn hóa để khám phá những “mã” thông tin vốn còn tiềm ẩn trong tác phẩm văn chương, hơn thế nữa là không chỉ ra được mối dây liên kết tinh thần là “tính văn hóa” luôn luôn ngầm chứa, xuyên suốt trong các quan hệ. Chưa nói rằng, khảo sát tác phẩm văn chương từ quan hệ giữa hệ thống với yếu tố, người nghiên cứu - phê bình còn dễ rơi vào xu hướng siêu hình, tuyệt đối hóa tính độc lập tương đối của yếu tố hoặc coi yếu tố như là một “hệ thống con” biệt lập... để không nhìn thấy logich biện chứng bên trong của các quan hệ.

Và ở đây còn có thể đặt ra một câu hỏi: đối với một cuốn tiểu thuyết, một truyện ngắn, một bài thơ... thì người nghiên cứu - phê bình sẽ phân tích như thế nào để chỉ ra đâu là hệ thống, đâu là yếu tố?

Theo tôi, khái niệm hệ thống văn hóa ra đời như là một sản phẩm có tính khái quát của giới nghiên cứu văn hóa nhiều hơn là trong thực tế. Vì trong thực tế, hệ thống văn hóa không tồn tại cụ thể, trực tiếp mà luôn được (phải) biểu hiện thông qua các sự vật - hiện tượng văn hóa, hay qua các sản phẩm văn hóa đang tồn tại trong một thành tố văn hóa nào đó (như kinh tế, chính trị, đạo đức, nghệ thuật, quan niệm thẩm mỹ, tín ngưỡng - tôn giáo, lễ hội, phong tục, tập quán...).

Vậy nên khi tiếp xúc với văn hóa của một cộng đồng người, muốn thật sự hiểu biết về nó, người ta nhất định phải đọc các tác phẩm thơ văn, xem các vở diễn, làm quen với các tập quán, sống với những phong tục, quan sát cách thức tổ chức gia đình và xã hội...

Nói cách khác là người ta khó có thể chỉ ra đâu là một hệ thống văn hóa cụ thể mà chỉ có thể nắm bắt hệ thống văn hóa qua các sự vật - hiện tượng văn hóa. Điều này làm cho trong bản chất của chúng, các sản phẩm văn hóa do con người sáng tạo luôn chứa đựng một logích “mờ, nhoè”, vừa là cái chung của văn hóa, vừa là cái riêng loại biệt giúp con người nhận diện; và xét từ tính giá trị, mỗi tác phẩm văn chương trong các mối quan hệ trong - ngoài của nó thật sự là một “tập hợp đa trị” nên người ta có thể nghiên cứu tác phẩm văn chương từ nhiều góc độ khác nhau.

Thiết nghĩ, để xây dựng một “phương pháp phê bình mới” (nếu có) là tiếp cận tác phẩm văn chương từ góc độ văn hóa, trước hết cần nắm bắt được một đặc tính quan trọng là các sản phẩm văn hóa luôn nằm trong một tổng thể hết sức “mờ, nhoè”, mỗi sản phẩm dù đơn chiếc song đều chứa đựng trong nó nhiều giá trị có quan hệ biện chứng với nhau (như với một tác phẩm văn chương, người ta không thể tách rời các yếu tố thuộc về thẩm mỹ ra khỏi các yếu tố thuộc về đạo đức, thuộc về niềm tin, thuộc về tập quán văn hóa…).

Do đó về bản thể luận, mỗi tác phẩm văn chương là một sản phẩm văn hóa bao gồm sự thống nhất không thể chia cắt của hai mặt: một mặt chứa đựng một số ý nghĩa của chính nền văn hóa đã khai sinh ra nó; một mặt là sản phẩm văn hóa do chủ thể thẩm mỹ là nhà văn sáng tạo ra, vừa là nơi phóng chiếu ý tưởng văn hóa của cá nhân, vừa là phương tiện thoả mãn nhu cầu thẩm mỹ của cộng đồng, vừa góp phần làm phong phú, bổ sung một (những) giá trị mới vào nền văn hóa đã khai sinh ra nó.

Từ những lý do trên theo tôi, nghiên cứu, vận dụng quan hệ văn hóa và văn chương vào nghiên cứu - phê bình văn học, có lẽ nên tiếp cận quan hệ văn hóa và văn chương từ quan hệ giữa “cái chung” với “cái riêng” thì hữu ích hơn là quan hệ giữa hệ thống với yếu tố, vì bản chất của quan hệ này cần được nhìn nhận như vậy. Và trên một ý nghĩa nhất định, đây cũng là tiếp cận mang tính chất triết học, trực tiếp giải thích quan hệ biện chứng giữa văn hóa với văn chương, đồng thời qua đó phác dựng tính hữu lý của nghiên cứu - phê bình từ quan hệ văn hóa với văn chương.

3. Như đã nói ở trên, văn hóa là một thực thể không tồn tại một cách cụ thể, trực tiếp và người ta chỉ có thể nhận diện văn hóa qua các sự vật - hiện tượng văn hóa, quan hệ này hoàn toàn tương ứng với tính chất của quan hệ biện chứng giữa cái chung và cái riêng.

Xét từ quan hệ giữa cái chung và cái riêng, chúng ta thấy văn hóa (cái chung) chỉ tồn tại thông qua các sản phẩm văn hóa vật thể hoặc phi vật thể (cái riêng), tức là văn hóa thực sự tồn tại, nhưng chỉ tồn tại trong các sản phẩm thuộc về nó chứ không tồn tại biệt lập hay lơ lửng đâu đó ở ngoài sản phẩm.

Vì thế khi đánh giá mỗi sự vật hiện tượng trong cuộc sống chúng ta thường xem xét từ một thuộc tính là “có văn hóa” hay không, dẫu đó là một lời nói, một hành vi ứng xử, một hoạt động... hay một công trình kiến trúc, một bộ phim, một ca khúc, một bài thơ, một cuốn tiểu thuyết...

Về phần nó, khi đã được xác nhận là sản phẩm văn hóa, tác phẩm văn chương trong tư cách là “cái riêng” chỉ tồn tại trong mối liên hệ đưa tới “cái chung” là văn hóa, nói cách khác là văn hóa vừa thẩm thấu vào tác phẩm, vừa cung cấp cho tác phẩm một ý nghĩa sao cho nó mang “tính văn hóa” và vì thế, bất kỳ một tác phẩm văn chương nào cũng tồn tại trong các liên hệ nội tại bên trong của nó với các mối liên hệ với các sự vật - hiện tượng, quá trình khác diễn ra chung quanh như tư tưởng thẩm mỹ, quan niệm đạo đức... của hệ giá trị văn hóa đang thống trị trong xã hội, của thời gian ba chiều, của không gian sinh tồn..., hơn thế nữa, là trực tiếp gắn liền với lịch sử cộng đồng, lịch sử văn chương, với nhu cầu của người đọc...

Từ sự tiếp cận có tính chất triết học về quan hệ biện chứng giữa “cái chung” và “cái riêng”, chúng ta thấy văn hóa có mặt trong phẩm chất của mọi sự vật - hiện tượng khác nhau do con người sáng tạo ra, đồng thời nó quyết định sản phẩm đó mang “tính người” hay không mang “tính người” và với văn chương, văn hóa trở thành bộ phận cấu thành nên mọi tác phẩm, đồng thời tập hợp các tác phẩm văn chương lại làm nên một kiểu loại sản phẩm văn hóa đặc thù mà bản thân chúng luôn mang ý nghĩa văn hóa, nhưng cách thức tổ chức của cấu trúc nội tại và hình thức tồn tại lại hoàn toàn khác biệt với các sản phẩm văn hóa không cùng kiểu loại.

Nói cách khác, tác phẩm văn chương bao giờ cũng phải chứa đựng các phẩm chất vốn chỉ có ở nó và chỉ có ở nó mà thôi. Những phẩm chất ấy giúp con người không nhầm lẫn một bài thơ với một vở diễn sân khấu, hay một ca khúc... Do vậy mà ở đây lại nảy sinh một câu hỏi là văn hóa có thể tham gia như thế nào vào công việc của người nghiên cứu - phê bình văn học?

Và theo tôi, câu hỏi này có ý nghĩa xác định “góc nhìn” của văn hóa vào tác phẩm văn chương và cũng xin nói ngay rằng dẫu văn hóa có là “chìa khóa vạn năng” để mở ra cánh cửa đi vào thế giới tinh thần của một dân tộc hay một nhóm người, một con người thì trong đời sống học thuật về văn chương, văn hóa vẫn không thể thay thế cho những lý thuyết có vai trò là công cụ của nghiên cứu - phê bình.

Bởi như đã trình bày ở trên, mỗi tác phẩm văn chương bao giờ cũng là sự mang tải và là tổng hòa các giá trị văn hóa (cái chung) với giá trị văn chương (cái riêng), tuy nhiên dù giữa hai bộ phận cấu thành ấy có một ranh giới không rạch ròi (“mờ, nhòe”) thì để đánh giá chúng, người ta vẫn cần đến những thước đo riêng.

Khảo sát “cái riêng” của tác phẩm văn chương, các lý thuyết văn học luôn phải giữ vị trí chủ đạo, vì văn hóa học - khoa học nghiên cứu văn hóa, không có nhiệm vụ (không có khả năng?) giải quyết các vấn đề thuộc về chủ đề - tư tưởng, cách thức tổ chức tác phẩm, nhân vật và hệ thống nhân vật, các biện pháp nghệ thuật trong xử lý không gian, thời gian…, rồi nữa là ngôn ngữ nghệ thuật, giọng điệu, phong cách…, tức là toàn bộ các yếu tố thuộc tổ chức bên trong của tác phẩm do nhà văn sáng tạo.

Tất nhiên, “tổ chức bên trong của tác phẩm” tự thân đã là sản phẩm văn hóa, song vì đó là kiểu loại sản phẩm văn hóa đặc thù nếu muốn khám phá, ngoài việc cần đặt nó trong quan hệ với các yếu tố văn hóa có tính chất khơi nguồn thì việc khảo sát trực tiếp thao tác sáng tạo của nhà văn vẫn không thuộc về văn hóa học.

Trong tình thế ấy, người làm nghiên cứu - phê bình trước sau vẫn cần phải sử dụng các lý thuyết văn học để khảo sát “cái riêng” của tác phẩm văn chương, đồng thời sử dụng các lý thuyết văn hóa học cùng hệ thống các giá trị văn hóa (cả các giá trị mang ý nghĩa trường tồn, lẫn các giá trị mang tính lịch sử) để khảo sát “cái chung”, nghĩa là khảo sát “tính văn hóa” của tác phẩm. Và sự phối kết các kết quả khảo sát ấy sẽ đưa lại một bức tranh toàn diện hơn về tác phẩm.

4. Nói như vậy không có nghĩa là việc sử dụng các lý thuyết văn hóa và hệ thống các giá trị văn hóa để khảo sát tác phẩm văn chương chỉ dừng lại ở sự khám phá “tính văn hóa” của tác phẩm, trên bình diện rộng hơn, văn hóa học ít nhiều còn có khả năng tham gia “giải mã” các dấu hiệu văn hóa, và nếu đặt tác phẩm trên cái nền rộng là văn hóa, người nghiên cứu - phê bình còn có thêm tiền đề, điều kiện để tìm hiểu lý do sinh thành, lý do tồn tại của tác phẩm văn chương trong hoàn cảnh văn hóa đặc thù. Từ cái chung là văn hóa đi tới cái riêng là văn chương và ngược lại, theo tôi đó là con đường của sự tiếp cận văn hóa.

Nghiên cứu văn hóa, người ta không thể phủ nhận một thực tế rằng nền văn hóa của mỗi cộng đồng dân tộc luôn chứa đựng trong nó một hệ thống “mã văn hóa”. Hệ thống đó không tồn tại chỉ như những quy ước thuần tuý mà còn chuyển tải cả những giá trị đã được chọn lọc - mã hóa - tích lũy - bảo quản - sử dụng trong lịch sử văn hóa của mỗi dân tộc với các đặc điểm, các lựa chọn riêng.

Những giá trị ấy có khả năng “đóng dấu” vào tâm thức cộng đồng, cũng như có khả năng trực tiếp tham gia điều chỉnh hành vi văn hóa của mọi thành viên trong cộng đồng, và khi so sánh văn hóa, người ta chỉ có thể để cập tới sự khác nhau chứ không thể đề cập tới sự hơn kém nhau. Tỷ như hiển nhiên không thể lấy giá trị vật chất hơn - kém để đánh giá khi muốn biểu lộ lòng mến khách thì người Việt nói “khách đến nhà không gà thì vịt”, trong khi với văn hóa Nga, người ta lại bày tỏ lòng mến khách bằng bánh mì đen và muối. Do đó khi sáng tác tác phẩm, dù nhà văn phát huy vai trò của tưởng tưởng và hư cấu đến mức độ nào thì tác phẩm vẫn khó có thể vượt qua các dấu hiệu và giá trị văn hóa của cộng đồng mà nhà văn chịu ảnh hưởng. Sự có mặt của các dấu hiệu và giá trị văn hóa trong tác phẩm văn chương có ý nghĩa trên hai phương diện:

- Quyết định mỗi tác phẩm văn chương chỉ thuộc về một nền văn hóa này chứ không thuộc về một nền văn hóa khác, đồng thời cũng trực tiếp khẳng đinh tác phẩm ra đời trước hết nhằm thỏa mãn nhu cầu văn hóa thẩm mỹ của chính cộng đồng.

- Từ trữ lượng giá trị văn hóa đã được sàng lọc và trải qua các giai đoạn của quá trình nhận thức và phản ánh của nhà văn, tác phẩm văn chương có khả năng trở thành chiếc “cầu nối” văn hóa giữa các cộng đồng, nó lý giải tại sao tác phẩm văn chương còn góp phần giúp các dân tộc nhận thức và hiểu biết về nhau ngày càng sâu sắc hơn.

Và điều đáng nói là khi tác phẩm văn chương có chứa đựng phẩm chất tư tưởng - nghệ thuật cao, mang các giá trị nhân văn có tầm vóc xuyên quốc gia, thì nó không những trở thành tài sản riêng, trở thành “điểm sáng” riêng của văn hóa và văn chương một dân tộc, mà sẽ trở thành tài sản chung của văn hóa và văn chương nhân loại.

5. Nghiên cứu - phê bình một (những) tác phẩm văn chương, thường khi người ta cần phải xem xét cả lý do ra đời của tác phẩm, nghĩa là tìm hiểu các tiền đề vật chất - tinh thần quyết định quá trình nảy sinh ý tưởng sáng tác của nhà văn.

Trong sự thống nhất đến mức không thể tách rời, phải thừa nhận rằng vai trò yếu tố chủ quan của nhà văn không bao giờ tách rời vai trò tác động của các yếu tố khách quan, và xét từ quan hệ với văn hóa, nhà văn lớn cũng là nhà văn hóa lớn, tác phẩm của họ chính là sự phối kết một cách hữu cơ ở tầm mức cao giữa các giá trị văn hóa với khả năng sáng tạo văn hóa của cá nhân.

Nghiên cứu - phê bình từ góc độ quan hệ giữa văn hóa và văn chương, một khi đã đặt tác phẩm trên “bệ phóng” của nó là văn hóa, sẽ thấy vấn đề không chỉ là tìm hiểu “bối cảnh lịch sử cho sự ra đời của tác phẩm”, sâu xa hơn là tìm hiểu cái gì, điều gì đã tác động tới sự lựa chọn, nảy sinh ý tưởng sáng tạo của nhà văn.

Bởi tương tự như mọi phương thức nhận thức - phản ánh nghệ thuật khác, thế giới tinh thần trong tác phẩm văn chương không bao giờ bị giới hạn trong “cái đã có” của hiện thực mà còn hướng tới “cái sẽ có”, tức là nhà văn còn đưa ra những chỉ báo có tính cách là dự cảm tinh thần về xu hướng vận động của hiện thực. Ở những nhà văn lớn, đôi khi dự cảm tinh thần ấy mang ý nghĩa là một tư tưởng, như với L.Tônxtôi hay Nguyễn Du...

Để khám phá, làm sáng tỏ thêm về tác phẩm, việc tìm hiểu “bối cảnh lịch sử” theo tôi mới là dừng lại ở những điều kiện khách quan có thể thực chứng, và người nghiên cứu - phê bình sẽ rất khó có thể tìm thấy động lực văn hóa đã chi phối quá trình sáng tác của nhà văn như thế nào. Bổ sung yếu tố văn hóa vào thao tác tìm hiểu nguồn gốc ra đời của tác phẩm văn chương, người nghiên cứu - phê bình sẽ có thêm công cụ khảo sát quan trọng, đó là đặt tác phẩm vào các mối liên hệ văn hóa theo cả chiều ngang và chiều dọc, như trong công trình Tìm hiểu phong cách Nguyễn Du trong Truyện Kiều, bằng quan niệm về độ khúc xạ trong tiếp biến văn hóa, PGS Phan Ngọc đã phát hiện một số nội dung vốn vẫn còn tiềm ẩn trong Truyện Kiều.

Xét từ lịch sử văn chương trong quan hệ với văn hóa, có thể nói sự phát triển của văn chương Việt Nam thời Trung đại và trong thế kỷ XX là kết quả của hai lần “đứt gãy văn hóa” có căn nguyên từ quá trình tiếp biến với văn hóa - văn minh thế giới.

Nếu coi “đứt gãy văn hóa” trong sự phát triển văn hóa của một dân tộc về bản chất là sự thay đổi thế hệ trong văn hóa với một kiểu tư duy mới chỉ xuất hiện khi văn hóa dân tộc đã nảy sinh tình trạng khủng hoảng và tiến trình văn hóa đòi hỏi các yếu tố văn hóa nội sinh, văn hóa ngoại sinh phải vươn tới một sự phối kết ở trình độ cao hơn nhằm tạo dựng một bảng giá trị văn hóa mới đủ sức làm biến đổi không chỉ diện mạo mà cả nội dung văn hóa theo chiều hướng tích cực, thì theo tôi, ít nhất văn hóa Việt Nam cũng đã trải qua hai lần “đứt gãy”: lần thứ nhất manh nha xuất hiện từ khi nhà Đường thiết lập An Nam đô hộ phủ ở Việt Nam vào thế kỷ VII và kết thúc vào thế kỷ XIII dưới triều đại nhà Trần; lần thứ hai diễn ra từ cuối thế kỷ XIX cho đến tận hôm nay.

Lần “đứt gãy” thứ nhất diễn biến trong một khoảng thời gian rất dài, phải chăng khi đó cơ tầng văn hóa Nam Á ở Việt Nam đã ổn định đến mức các giá trị văn hóa bên ngoài không dễ thâm nhập một sớm một chiều. Chúng ta còn nhớ, khoa thi tiến sĩ đầu tiên do nhà Lý tiến hành năm 1075 là “thi Nho học bằng ba kỳ thi”, các vị vua nhà Lý thường là những tín đồ Phật giáo… nhưng sử cũ còn ghi lại cả các sự kiện khác như: vua nhà Lý còn tổ chức “cầu đảo” khi đất nước bị hạn hán hoành hành, và trong khi vua Lý “ban hiệu quốc sư cho thầy chùa là Khô Đầu” (năm 1088) thì lại có chuyện “nhà sư Vương Ái dâng cây cau một gốc đẻ bảy mầm” (năm 1121)...

Các sự kiện này cho thấy đến tận thế kỷ XII vẫn chưa có một tư tưởng ngoại nhập nào thật sự độc tôn và ngay vào lúc người ta ngỡ Phật giáo đang thịnh trị thì nó cũng không hẳn có một vị trí ưu thắng, nên không ngẫu nhiên một chức sắc Phật giáo phải sử dụng một lễ vật gần gũi với Đạo giáo là “cây cau một gốc đẻ bảy mầm” để cầu thân với triều đình. Phải tới thế kỷ XV, với sự khẳng định vai trò là “quốc giáo” của Nho giáo thì quá trình “đứt gãy văn hóa” mới hoàn tất. Thiển nghĩ, đối với việc nghiên cứu văn chương Việt Nam thời Trung đại, nếu được đặt trong quá trình “đứt gãy văn hóa” như vậy hẳn sẽ đưa tới nhiều kết quả thú vị.

Ở lần “đứt gãy” thứ hai, khởi đầu là tình huống văn hóa - lịch sử diễn ra trong sự đan xen phức tạp giữa hệ thống giá trị văn hóa bản địa với chữ Hán và Nho giáo, thêm vào đó là lần đầu tiên có sự du nhập của văn hóa phương Tây với đại diện là văn hóa Pháp.

Đầu thế kỷ XX, người Pháp - với ưu thế vượt trội về văn hóa và văn minh, đã thiết lập sự cai trị của họ trên xứ Đông Dương và dưới những hình thức khác nhau, họ trực tiếp gây nên một cuộc đảo lộn trong văn hóa Việt, như trong Thi nhân Việt Nam Hoài Thanh đã viết: “Cả nền tảng xưa bị một phen điên đảo, lung lay. Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”.

Bằng tinh thần duy lý - như cái cách hôm nay chúng ta vẫn gọi, người phương Tây đã làm nên những việc phi thường. Bởi vậy việc học hỏi những tinh hoa của họ là sự bức thiết đối với mọi quốc gia phương Đông muốn phát triển.

Vấn đề này thật ra đã xuất hiện từ đầu thế kỷ XIX, song nhận thức được tính tất yếu của nó không phải là một sớm một chiều, vì tới tận đầu thế kỷ XXI nó vẫn là một vấn đề thời sự đối với một số quốc gia châu Á.

Hiện tượng này có nguyên nhân lịch sử của nó bởi sự có mặt ở phương Đông của văn minh phương Tây đi cùng với các cuộc xâm lược không kém phần bạo liệt, do vậy khi tiếp xúc với văn minh phương Tây, người phương Đông - cụ thể là người Việt Nam, ở thời kỳ đầu đã tỏ ra e ngại nếu không nói là kỳ thị. Vả lại, bước đột biến trong tư duy của con người vốn không dễ xảy ra trong một thời gian ngắn, nó phải diễn ra với nhiều trắc trở, phải trải qua nhiều khúc khuỷu trong thời gian dài và kết quả thường chỉ có được sau một vài thế hệ.

Vấn đề còn nghiêm trọng hơn khi mà những “lề thói” văn hóa cũ đã bám rễ vào sinh hoạt xã hội nếu không nói đã từng là một hệ thống các yếu tố chủ đạo trong diễn trình lịch sử. Vì thế, các bước chuyển đổi để xây dựng một trong những nền tảng tinh thần của văn hóa mới là tư duy và phương thức tư duy, là thế giới quan và phương pháp luận khoa học, thật sự là một thách thức không dễ vượt qua. Kiểu tư duy được tiếp thu từ phương Tây không chỉ dựa vào hệ thống kinh nghiệm, đó là kiểu tư duy hoàn toàn khác, tuy cũng phải dựa trên tiền đề kinh nghiệm, song nó coi kinh nghiệm chỉ là điểm xuất phát, là bắt đầu cho sự nhận thức ở một chiều kích mới, bản chất hơn. Và với người sử dụng, ngoài việc nắm bắt hệ thống tri thức về đối tượng còn phải “hiểu” và biến sự “hiểu” ấy thành thao tác trong thực tiễn nhằm khám phá sự vật - hiện tượng, tìm ra các quy luật chung - riêng, các đặc điểm chung - riêng của sự vật - hiện tượng, từ đó tác động làm cho sự vật - hiện tượng vận động phát triển. Đây là quá trình chưa từng có mặt trong hoạt động của tư duy phương Đông, hay chưa từng có mầm mống ở phương Đông.

Hơn một thế kỷ qua, ở Việt Nam đã và đang diễn ra một quá trình đầy khó khăn đối với việc du nhập, phổ biến, sử dụng một kiểu tư duy mới trong xã hội với tính cách là công cụ để khám phá thế giới và con người, vì nó rất khó diễn ra trong bối cảnh một xã hội đã có hàng nghìn năm gần như “bế quan toả cảng”.

Cái mới từng bước được du nhập, cái cũ còn phù hợp vẫn tiếp tục đời sống riêng, cái cũ không còn thích hợp thì từng bước bị đào thải, chúng tồn tại đan xen với nhau, không triệt tiêu lẫn nhau mà cùng làm nên một diện mạo mới của văn hóa.

Kể từ ngày viết hai câu thơ: “Trên ghế bà đầm ngoi đít vịt - Dưới sân ông cử ngỏng đầu rồng”, Tú Xương đã nhận diện được tình trạng “lưỡng phân” trong văn hóa dân tộc, đến các thập kỷ sau đó, sự đan xen phức tạp của các hệ giá trị văn hóa đã làm nảy sinh trong văn chương câu chuyện “hồn bướm mơ tiên”, xuất hiện các nhân vật như Xuân tóc đỏ, còn Nguyễn Công Hoan hẳn là có lý khi ông đặt tên cho một cuốn tiểu thuyết của mình là Hỗn canh hỗn cư...

Hôm nay, cuộc “đứt gãy văn hóa” lần thứ hai vẫn đang tiếp tục. Toàn cảnh văn hóa dân tộc ở đầu thế kỷ XX dường như đang được lặp lại trong những năm tháng đầu thế kỷ XXI này, song đã ở trình độ cao hơn về văn minh, và các công cụ truyền bá văn hóa cũng phong phú hơn.

Trên cái nền rộng của văn hóa ở buổi giao thời của các hệ giá trị, các tác phẩm văn chương cũng “chuyển dịch” theo các xu hướng đôi khi nằm ngoài ý muốn của những ai đã một thời hướng tới cái đơn nhất của mô hình văn chương ít nhiều máy móc. Sự “nhiễu loạn” các giá trị và chuẩn mực văn hóa đã đẩy tới sự “nhiều loạn” của các giá trị và chuẩn mực văn chương, phải chăng đó là một khả năng có thể bổ sung vào hệ thống các phương tiện đưa tới lời giải cho tình trạng của văn chương Việt Nam đương đại?

6. Ngày nay, việc tìm kiếm, phát hiện các công cụ lý thuyết mới, xác lập những góc độ tiếp cận mới đối với tác phẩm văn chương không phải là ý muốn chủ quan của người làm lý luận - nghiên cứu - phê bình, đó là đòi hỏi tự thân, là sự đáp ứng yêu cầu ngày càng cao trong sự khám phá tác phẩm. Tiếp cận từ quan hệ văn hóa và văn chương, nếu có một ý nghĩa nào đó, chính là một hành động cần thiết và khả thể.

Tuy nhiên, dù tiếp cận văn hóa và văn chương có hữu dụng đến thế nào thì xét đến cùng đó cũng chỉ là một trong nhiều con đường giúp người nghiên cứu - phê bình đến với tác phẩm văn chương. Và cũng tuy nhiên, như một bảo đảm cho tính hiệu quả, người làm nghiên cứu - phê bình cần thiết phải được trang bị các tri thức chuyên ngành văn hóa học. Nếu không có sự trang bị ấy, chắc chắn kết quả làm việc sẽ chỉ là những ngoại suy chủ quan thiếu nền tảng lý thuyết cơ bản, nhất là trong hoàn cảnh ngành văn hóa học đang còn hết sức mới mẻ ở Việt Nam.

Có thể bạn quan tâm