Trọn đời cho Tổ quốc, cho cách mạng và cho thơ

Trọn đời cho Tổ quốc, cho cách mạng và cho thơ

Ngày 17-5, vào lúc 0 giờ 25 phút nhà thơ đã vĩnh biệt chúng ta ở tuổi 99.

Chiều 20-5, đại diện nhiều tầng lớp nhân dân thủ đô, đông đảo văn nghệ sĩ trong cả nước đã đến Nhà tang lễ số 5 Trần Thánh Tông trong ngùi thương, tiếc nuối và thán phục vĩnh biệt người "trưởng lão" của làng văn, một nhà thơ đi suốt các chặng đường cách mạng và văn học của thế kỷ 20.

Ngùi thương, tiếc nuối vì ông không gắng thêm được một năm nữa để tuổi hạc tròn trăm; vì sinh thời ông có cuộc đời không mấy suôn sẻ, luôn trĩu nặng buồn đau vì sớm mồ côi bố mẹ rồi gánh chịu tang vợ, tang con...

Nhưng trong đám tang ấy dường như ít có tiếng khóc. Nhiều người cảm thấy hãnh diện về ông. Đó là  một cuộc đời thanh bạch, không bon chen vụ lợi;  một nghị lực phi thường của một cuộc sống có lý tưởng và đinh ninh với lý tưởng cao cả của mình như ông từng viết: "Tôi đã hiến trọn cuộc đời tôi cho Tổ quốc, cho cách mạng và cho thơ".

Nhà thơ Khương Hữu Dụng sinh năm 1907 trong một gia đình nhà nho nghèo ở phố cổ Hội An. Mảnh đất Quảng Nam, con sông Thu Bồn đã hun đúc nên trong ông từ thuở thiếu thời đức kiên trung và hồn thơ bất diệt. Ông còn lớn lên trong một không gian thứ hai, thời gian thứ hai nữa là sự cổ kính của lịch sử và tiếng vọng của thơ Đường.

Đến với thơ Đường,  ông trở thành một người dịch thơ có uy tín nhất là với thơ cổ Việt Nam và Trung Hoa. Cũng giống như Tản Đà, Khương Hữu Dụng đã có những bài thơ dịch từ thơ Đường ra, đáng được coi là bài thơ Việt tuyệt tác. Chẳng hạn bài “Tiễn biệt ở quán rượu Kim Lăng”, “Bài ca đập áo” của Lý Bạch hay “Mùa xuân đề thơ trên hồ” của Bạch Cư Dị:

Xuân đến trên hồ tựa bức tranh
Nước êm phăng phẳng núi vòng quanh
Sườn non bích trải: tùng muôn cụm,
Đáy nước châu gieo: nguyệt một vành....

Cuộc tiếp xúc với thơ Đường không chỉ biến ông trở thành một dịch giả mà cái chính là biến ông thành một tín đồ của lối làm thơ "nhị cú tam niên", "ngữ bất kinh nhân tử bất hưu", suốt đời đi săn "nhãn tự", và "thần cú". Ông không đổi mới theo phong trào, đổi mới để được tiếng tân thời mà đổi mới đến tận cùng để bắt được cái thần, cái cốt lõi, cái vĩnh hằng của thơ.

Vào dịp kỷ niệm 600 năm Ngày sinh Nhà văn hóa lớn Nguyễn Trãi, tôi được ông đọc cho nghe một bài thơ mới, bài “Côn Sơn”. Dạo đó, nhà ông đang ở trên căn gác  hai số 36 phố Phan Bội Châu nên tôi cũng thường đến hầu chuyện ông. Ngay ngày hôm sau, ông đến báo Nhân Dân, nói gần như reo: "Bác đã sửa được một chữ rồi, hay hơn hẳn". Một hôm sau nữa, vào buổi tối sang khuya, bác lại đến: "Chữ này đi với chữ kia mới thật tuyệt vời cháu ạ!".

Bài thơ lúc đầu là:

Lên đỉnh Côn Sơn tìm Nguyễn Trãi
Trên đầu xanh ngắt một bầu không
Bàn cờ thế sự quân không động
Mà thấy quanh mình nổi bão dông.

Tôi tâm đắc nhất chữ "bầu không" xanh ngắt của bác, tâm đắc giữa quan hệ tĩnh và động, thấy có sự rợn ngợp của đời.

Cuộc kỳ ngộ thứ hai của Khương Hữu Dụng là cuộc gặp gỡ với Phan Bội Châu. Khương Hữu Dụng coi nhà chí sĩ là người thầy của mình và bọn thực dân Pháp thì coi Khương Hữu Dụng là một kẻ nguy hiểm, một "cái loa của Phan Bội Châu". Ngày 17-3-1926, Phan Bội Châu nói chuyện với học sinh Quốc học Huế. "Với giọng âm vang nhiều lúc nghẹn ngào, Khương Hữu Dụng kể lại, Cụ nói về nỗi ô nhục của người dân mất nước, suy nghĩ khẩn thiết về lẽ sống trong mỗi thanh niên".

Dưới sự hướng dẫn, giúp đỡ của cụ Phan và bà Đạm Phương, nhóm Khương Hữu Dụng đã công khai tuyên truyền lòng yêu nước. Biệt hiệu và bút danh Thế Nhu của Khương Hữu Dụng là do cụ Phan đặt cho. Vì những hoạt động tuyên truyền yêu nước ấy mà Khương Hữu Dụng bị đánh trượt trong kỳ thi của Ban Thành chung năm 1926,chỉ được bổ làm "trợ giáo" đi dạy học ở Quảng Bình (1927 - 1932).

Tính quyết liệt, sự xác tín trong Khương Hữu Dụng được gieo mầm từ ngày đó. Vào năm 1931, Khương Hữu Dụng có hẳn ba bài thơ Đường luật đã viết về Xô-viết Nghệ Tĩnh trên báo Tiếng dân, tố cáo tội ác của khủng bố trắng "Da trời máu nhuộm hoe đôi mắt, Mặt đất than un sốt cả lòng" (Tức cảnh) và không ngại ngùng bày tỏ thái độ "Tức tối tím đen gan thiết thạch, Não nồng sôi đỏ lệ tang thương" (Khóc người mất). Thay lời các liệt sĩ, ông đã có những câu thơ đánh giá cao danh thơm của họ và khích lệ mọi người tiến bước:

Hoa lan đành cháy mùi lan đượm
Thân trúc dầu thiêu lóng trúc còn
Chết ấy chẳng qua là thể phách
Tinh thần sống mãi với giang sơn.

Nên nhớ, đấy là năm 1931 và những câu thơ như vậy, có thể đổi lấy tù đày. Và thực tế, năm 1941, Khương Hữu Dụng bị Pháp cách chức "vì lòng trung thành đáng nghi ngờ và những hoạt động chính trị đáng khiển trách".

Như vậy, Khương Hữu Dụng không trải qua giai đoạn Thơ mới mà đi thẳng đến văn học cách mạng. Về cuộc đời, ông từng là Thường vụ Việt Minh, tham gia cướp chính quyền ở Đà Lạt, tham gia quân đội, phụ trách tiểu ban văn nghệ Liên khu V, biên tập viên Nhà xuất bản Văn học...

Về thơ ca cách mạng và kháng chiến, ông có đỉnh cao là “Kinh nhật tụng của người chiến sĩ” (NXB Thanh niên Cứu quốc, Huế, 5-1946) và “Từ đêm Mười chín” (Chi hội văn nghệ Liên khu V, 1-1951).

Dựa theo một tài liệu Việt Minh, có sự góp phần của Nguyễn Đình Thư và Nguyễn Đình, Khương Hữu Dụng đã viết nên một áng văn chương yêu nước xuất sắc, được truyền bá và "tụng niệm" hằng ngày của các chiến sĩ cách mạng thời đầu dựng nước và kháng chiến. Ngoài phần mở đầu, có các phần Với chính mình, Với công tác, Với đồng chí, Với dân chúng, Với đoàn thể, Với tôn giáo, Với tất cả phái này đảng khác, Với chính thể cộng hòa dân chủ, Với Tổ quốc...

Trong đám tang đưa tiễn Khương Hữu Dụng, tôi còn nghe các đồng chí lão thành cách mạng Liên khu V đọc thuộc lòng từng đoạn “Kinh nhật tụng”:

Người chiến sĩ lòng kiên dạ quyết
Việc phải thành, xương huyết đầu rơi
Một ngày còn thấy bóng trời
Một ngày còn vị giống nòi quê hương...

Sau “Kinh nhật tụng” là đến “Từ đêm Mười chín”, viết năm 1947-1948, được đánh giá là "một thành tựu đáng chú ý trong bước tiến của cả nền thơ lúc bấy giờ". Một đoạn của bản anh hùng ca này được trích trong các sách học phổ thông và nhiều thế hệ còn giữ lại trong lòng mình những câu thơ được coi là hay nhất trong thơ Việt Nam hiện đại như Lên: bám vào mây, xuống: bíu gió; Trượt chân: suối cuốn một làm rêu và Một tiếng chim kêu sáng cả rừng.

Giáo sư Lê Trí Viễn viết: "Cùng năm tháng ấy, lời ca Tiểu đoàn 307 đánh đâu được đấy, anh hùng biết mấy của Quốc Hương, tiếng nhạc  Sông Lô của Văn Cao, khí thơ Hải Vân của Khương Hữu Dụng cùng cất lên một lượt hòa chung một điệu hào hùng, chỉ có bốn nghìn năm non biển thiêng liêng Việt Nam này mới có".

Khương Hữu Dụng một đời bạc đầu vì chương cú, đánh vật với từng con chữ để tạo nên những kỳ đài thơ mài không vẹt, giũa chẳng mòn nhưng khi tiếng tự nhiên cất lên từ trái tim yêu thương chân thành lại có những bài thơ gần gũi, tuyệt hay. Bài “Những tiếng thân yêu, ca ngợi Đảng” là một bài thơ như vậy:

Khi còn ở trong nôi
Đôi môi hồng bập bẹ
Thân yêu nhất đời ta
Tiếng đầu lòng Mẹ Mẹ...

...Gia đình trong ba lô
Bước lên đường cách mạng
Trong những tiếng thân yêu
Đã thêm vào tiếng Đảng
Lòng nôi nào không ấm
Giấc mơ nào không thành
Tiếng chim nào không trong
Khi đời ta có Đảng?

Ông có đặt tên cho một tập thơ của mình là “Bi bô” (NXB Tác phẩm mới, 1985) chính là để định hướng cho mình về sự hồn nhiên, trong sáng của trẻ thơ, là sự bổ sung cho cái hướng "già dặn" cổ điển của mình, bởi thế vần xuân trong thơ ông mãi trẻ; bởi thế ông có một đời thơ liên tục hơn 70 năm mà không đứt đoạn.

Tôi đã từng vinh hạnh  được gặp ông, được ông bày vẽ cho trong việc làm thơ. Không ít lần tiễn chân, ông còn níu thêm nói chuyện hàng giờ về một chữ trong thơ. Bây giờ ngẫm lại, thì ra mình chưa đủ nhẫn, đủ lực để đi theo cái dài, chỉ bấn bíu và muốn chạy theo cái ngắn như mọi người khác.

Bác Khương Hữu Dụng ơi! Bác còn sống mọi người đã học bác; bác mất rồi, tấm gương trọn đời vì nước, vì cách mạng, vì thơ của Bác; lối sống theo truyền thống gia đình "Tri túc tâm thường thái, Vô cầu phẩm tự cao(1)" càng ngời ngợi sáng trong.

Xin lấy thơ bác làm gương, lớp hậu sinh chúng tôi xin noi theo lòng yêu nước, thương người, noi theo sự tận tụy,  sống tâm huyết vì Tổ quốc, vì Đảng, vì thơ, vì phẩm giá thanh cao và chân chính của con người.

Hà Nội, đêm 20-5-2005
NGUYỄN SĨ ĐẠI    

---------------

(1) Tạm dịch: Biết đủ, lòng thường thư thái; Không ham, phẩm tiết thanh cao.

Có thể bạn quan tâm