Huy Cận may mắn là nhà thơ ngay từ bước khởi đầu sự nghiệp đã được sự công nhận và đón nhận của công chúng yêu thơ, của những nhà thơ đồng nghiệp và cả của những nhà phê bình khó tính. Hoài Thanh trong Thi nhân Việt Nam đã hết lời ca ngợi thơ Huy Cận: "Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường, thi nhân lại có thể đúc thành bao nhiêu châu ngọc". Và Hoài Thanh - thi sĩ chợt thấy: "Có lẽ thi nhân trong cuộc viễn du đã có lần nhác thấy cái xa thẳm của thời gian và không gian, có lẽ người đã nghe trong hồn hơi gió lạnh buốt từ vô cùng đưa đến". Ở tuổi hai mươi, Huy Cận trong thơ mình đã nghe được nhịp viễn hành của vũ trụ, và nghe được cả những xao xác nhỏ bé của từng chiếc lá, từng ngọn cỏ lúc chuyển mùa.
Người ta nói ông là nhà thơ có cảm thức vũ trụ - không phải trong thơ ông thường xuất hiện từ "vũ trụ", mà bởi ông như có giác quan thứ 6 khi lắng nghe được những vận hành tế vi của "sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp", của những đứt nối kỳ lạ từ một đêm mưa: "Nghe đi rời rạc trong hồn/Những chân xa vắng dặm mòn lẻ loi". Nào ai biết đó là bước chân mưa hay những bước đi rời rạc trong hồn một người hay chính là bước chân của vũ trụ? Là nhà thơ có đôi tai hướng nội cực nhạy, Huy Cận đã nghe được những chuyển động âm thầm của không gian, thời gian, của những mầm, những nụ, những rạo rực của dòng nhựa ứ trong cây. Đó là người cực kỳ tinh tế trong một vẻ ngoài thô tháp.
| “Trên tao đàn Việt Nam bỗng phe phẩy một ngọn gió yêu đời, tuy không thổi tan những đám mây sầu u ám, song cũng đã thấy ngân lên những tiếng reo vui. Người thính tai sẽ thấy trong những tiếng kia còn biết bao nhiêu vui gượng, nhưng dầu sao sự cố gắng đau đớn của cả một lớp người đi tìm vui, cái cảnh ấy ai thấy mà chẳng động lòng? Than ôi! Ngày vui ngắn ngủi chưa được mấy năm, nỗi buồn đã trở về, ảm đạm và nặng nề hơn xưa. ... Huy Cận đi lượm lặt những chút buồn rơi rớt để rồi sáng tạo nên những vần thơ ảo não. Người đời sẽ ngạc nhiên vì không ngờ với một ít cát bụi tầm thường, thi nhân lại có thể đúc kết thành bao nhiêu châu ngọc. Ai có ngờ những bước chân đã tan trên đường kia còn ghi lại trong văn thơ những dấu tích hẳn không bao giờ tan được?". (Trích trong Thi nhân Việt Nam của Hoài Thanh - Hoài Chân) |
Sinh thời, Huy Cận là người hồn nhiên. Ông dân dã và "đời thường" đến mức nhiều người thấy ngạc nhiên và hơi ngại ngần khi tiếp xúc. Thú thật, tôi cũng là một trong số đó, nên mặc dù có thời gian chơi khá thân với Xuân Diệu như một đứa em, nhưng tôi ít tiếp xúc với Huy Cận trong khi vẫn lặng lẽ đọc thơ ông. Một nhà thơ Việt hiện đại nào mà không đọc thơ Huy Cận, không ít nhiều ảnh hưởng cái “từ trường” đầy nhạy cảm của thơ ông? Tôi nhớ, ngày mới giải phóng Sài Gòn, trong một dịp tình cờ tôi được gặp và hầu chuyện nhà thơ Bùi Giáng, một người mà tôi đã đọc và biết ông yêu thơ Huy Cận vô cùng. Bùi tiên sinh đã đố tôi nhiều câu thơ của Huy Cận. Có những câu tôi biết, và có nhiều câu tôi chưa đọc, nhất là những câu thơ trước cách mạng của Huy Cận. Sau này có dịp đọc được nhiều hơn thơ Huy Cận, nhưng trong tôi những ấn tượng đầu tiên khi đọc những bài thơ đầu tiên của Huy Cận thì vẫn vậy: đó là thơ của một "thi sĩ toàn tòng", một người chỉ viết những câu thơ, những bài thơ cho riêng mình, nhưng người khác hoàn toàn có thể chia sẻ được. Trong sáng, bình tâm, bình thản, Huy Cận "đi giữa đường... thơ" như người nông dân đi giữa đường làng "đường trong làng: hoa dại với mùi rơm" và ở "một buổi trưa không biết ở thời nào", chỉ biết "chân bên chân, hồn bên hồn yên lặng". Lúc nào tự thấy thơ mình hơi lớn giọng, tôi lại tự "hạ nhiệt" cho mình bằng cách đọc thơ Huy Cận. Thơ ấy nói với ta về cuộc tồn sinh, về cái lớn lao của trời đất bằng một giọng thì thầm. Thơ ấy khuyến khích ta yêu thương con người ở những gì bé bỏng thuần hậu nhất nơi con người. Nó không hề xa mà rất xa, không cao kỳ mà lại rất cao. Trong đời thơ rất dài của mình, như bao nhà thơ-không-siêu-nhân khác, Huy Cận cũng có những bài thơ thường thường, "bài hay chen lẫn với bài vừa" cũng là lẽ đương nhiên trong một tập thơ, trong nhiều tập thơ của bất cứ nhà thơ nào, kể cả những nhà thơ lớn, rất lớn. Nhưng Huy Cận luôn thật thà với chính thơ mình. Ông không khăng khăng buộc ta phải công nhận mọi bài thơ của ông, ông dành cho người đọc sự tự do chọn lựa. Ông có Lửa thiêng, ông cũng có rất nhiều tập thơ sau cách mạng nổi tiếng. Ông làm thơ về kim tự tháp, nhưng cũng làm rất nhiều thơ về những người lao động bình thường như “Anh Tài Lạc”, như “Bác Phở Cầu”..., những người thường được gọi một cách hững hờ là "vô danh" - "Mà-mai mỉa-cuộc đời rất cụ thể/Có đau khổ bằng xương dần thịt xé/Có tên ghi trong sổ kín mã tà/Đời những anh hùng bằng thịt bằng da/Bằng lịch sử bằng ngày đêm sáng tối/" (Bác Phở Cầu).
Là người từng trải nhưng có cảm giác cho đến cuối cuộc đời mình, Huy Cận vẫn là người hồn nhiên. Dường như có một đứa bé thơ trong ông, một đứa bé biết mà như không biết, nói mà như không nói, chợt cười khi thấy một bông hoa cười, và chợt khóc khi thấy một chiếc lá chuyển cành. Đó là nhà thơ suốt đời tự lắng nghe mình, lắng nghe trong thăm thẳm cõi riêng mình những chuyển động, những mấp máy, những thầm thì của những gì nhỏ bé nhất. Và những nhỏ bé ấy chính là vũ trụ: "Nắng chia nửa bãi, chiều rồi…". Hãy đọc thầm câu thơ ấy và hãy nghe những dư vang trong im lặng của nó, một câu thơ chia tay Huy Cận đã viết cách đây gần 70 năm. Và có lẽ không còn câu nói nào hay hơn khi viết về chuyến ra đi cuối cùng hôm nay của ông bằng chính hai câu thơ ông, xin phép ông được đổi chữ "em" thành chữ "Anh":
“Ngủ đi ANH, mộng bình thường
Ru ANH sẵn tiếng thùy dương mấy bờ..." (Ngậm ngùi)
Vâng, thật ngậm ngùi, và cũng không biết nói gì hơn khi chúng ta mất một nhà thơ lớn như vậy!