Chuyện xưa kể, năm đó, Thái úy Lý Thường Kiệt đem quân "bình Chiêm". Vào một buổi chiều thủy quân của ngài đến địa phận Canh Dịch Trại thì gặp trận cuồng phong. Gió dữ bẻ gãy cột cờ, cuốn lá cờ đại lên đỉnh núi. Thấy điềm lạ, Lý Thường Kiệt cho neo thuyền rồi lên bờ xem xét. Ngài gọi núi ấy là núi Cuốn Sơn, đổi tên Canh Dịch Trại thành Cuốn Sơn thôn, biện lễ tế cáo trời đất. Ngài đặt đàn tế trong rừng trúc, gần ngôi đền thờ hai mẹ con bà hàng nước. Nửa đêm, hai mẹ con bà hiện lên báo mộng, xin cùng theo đánh giặc. Khải hoàn, Lý Thường Kiệt dừng quân lễ tạ, xin vua phong bà hàng nước là Mẫu hậu, cô con gái là Công chúa và sửa sang đền thờ. Hằng năm, Lý Thường Kiệt đến lễ tạ âm thần, cho mời dân làng mở hội mừng chiến thắng. Tức cảnh sinh tình, ngài còn sáng tác nên làn điệu hát dặm vừa tình tứ vừa trang nghiêm, rồi tuyển chọn các chàng trai khỏe mạnh tham gia hội đua thuyền, dạy các cô gái trẻ đẹp múa hát.
Sau này, nhân dân địa phương lập đền thờ Lý Thường Kiệt ngay tại rừng trúc. Ngôi đền ngoảnh mặt ra sông Ðáy, phía sau thờ Mẫu hậu và Công chúa. Di tích đền Trúc có 32 sắc phong của các triều đại phong kiến. Ngày 20-1-1994, Nhà nước đã công nhận đền Trúc và Ngũ Ðộng Sơn là di tích lịch sử văn hóa.
Lễ hội đền Trúc (hay Ngũ Ðộng Thi Sơn) được mở hằng năm, suốt từ mồng mười tháng Giêng qua chính lễ là mồng sáu tháng hai, kéo dài đến mồng mười tháng hai mới dứt. Nét nổi bật của lễ hội này là trò hát dặm, gồm hơn 23 tiết mục với hàng nghìn câu thơ, tương truyền do Lý Thường Kiệt sáng tác. Theo nghệ nhân Trịnh Thị Răm, người đã mang câu hát dặm Quyển Sơn đi qua 16 nước trên thế giới, thì đội dặm gồm 30 "con dặm" được lựa chọn kỹ lưỡng từ những trinh nữ trong làng. Ngoài hát dặm, hội đền Trúc còn có hát bỏ bộ, hát đúm. Tối tối, trai gái lên đền lễ tạ rồi tản ra chung quanh hát đối đáp tỏ tình.
Qua bao dâu bể, phong cảnh quần thể Ngũ Ðộng Thi Sơn vẫn nguyên vẹn như xưa, u tịch linh thiêng giữa mầu xanh bạt ngàn của trúc, như phảng phất anh hồn người anh hùng đất Việt.