ND - "Hãy tha thứ cho anh". Bó hương trầm đã tắt. Ông Tiếp lặng lẽ rời nghĩa trang liệt sĩ, trở lại chỗ cụ Bằng. "Vậy là ông mới về chiều qua? Nhanh thật, đã ba mấy năm trời.
Hừ... ừm. Ðời người đúng tựa gang tay. Mãi vừa rồi, tôi mới được biết ông ở Tây Ninh. Chỉ thương bà Ðào... Ông về thăm quê có lâu không?". Cụ Bằng hỏi ông Tiếp rồi đặt điếu cày, giở gói thuốc lào, vân vê điếu thuốc, trầm lặng nhìn ra ngoài. Ông Tiếp ngồi xuống vạt cỏ cằn cỗi bên đám sim mua hoang dại.
- Vâng ạ - ông Tiếp khe khẽ đáp.
- Ông vâng cái gì? - Cụ Bằng ngạc nhiên.
- Cụ bảo gì ạ?
- Ồ, ông này lạ thật. Ðầu óc cứ để tận đẩu tận đâu. À... Phải...
Cụ Bằng chống hai tay vào chiếc điếu cày. Phải, chắc là ông ấy nghĩ đến cô Ðào - à, bà Ðào - ngày xưa. Khổ, yêu nhau chờ đợi đằng đẵng mấy chục năm trời, vậy mà không thành. Hồi chưa đi bộ đội - năm 1967 thì phải - anh Tiếp với cô Ðào đã say nhau lắm rồi. Anh Tiếp làm thư ký đội sản xuất, còn Ðào làm bí thư chi đoàn thanh niên. Ai cũng bảo đẹp đôi. Không phải vì trai tài gái sắc, cái Ðào thì chẳng xinh bằng cái Khiêm con ông Khánh hay cái Cơ con bà Cờ, nhưng được cái nết, đã hay lam hay làm lại ăn nói dễ nghe. Còn anh Tiếp chất phát, thực thà, tận tâm với công việc làng. Cả hai gia đình - nhà anh Tiếp với nhà cô Ðào - đều có hoàn cảnh na ná nhau. Anh Tiếp còn mỗi bố và em gái. Ðào còn mẹ và cô em. Hai người sắp cưới thì mẹ Ðào mất. Nhà gái xin khất cưới vào năm tới. Ðộ hơn tháng sau ngày khất, Tiếp nhập ngũ. Mấy tháng sau, Ðào đi thanh niên xung phong. Ði được hơn hai năm, Ðào phải về vì sức yếu.
- Có phải năm bảy bảy, ông gửi thư về cho bà Ðào - lúc ấy phải gọi là cô Ðào?
- Vâng ạ. Ðáng lẽ cháu được về phép giữa năm ấy, nhưng rồi lại có lệnh ở lại chiến đấu bảo vệ biên giới Tây Nam. Hơn một năm sau, cháu bị thương nặng phải điều trị ở thành phố Hồ Chí Minh. Cũng từ dạo đó cháu bặt tin ở quê và cũng chẳng viết thư về nhà. Cụ tính, cháu phải mổ đi mổ lại bốn, năm lần vết thương, lại nhiễm chất độc màu da cam. Ðến tận năm 1990, cháu mới biết đích xác chuyện của Ðào.
- Cái đẫn sau thì tôi biết.
Ông cụ nạp thuốc, bật lửa, châm thuốc hút, chầm chậm phả khói ra trước mặt.
- Chà, chóng thật... Ông năm nay cũng phải sáu mươi, sáu mốt tuổi rồi còn gì?
- Cháu sáu hai, ông ạ.
- Tôi hơn ông đúng hai chục tuổi. Chà, mới ngày nào... Cũng chẳng bao lâu nữa... xuống lỗ hết.
- Ông già rồi, nhận trông nghĩa trang làm gì?
- Nào có ai cử. Nhà tôi gần đây - ông cụ chỉ ra căn nhà ngói thấp bé lọt giữa mấy cây xanh ở chếch cổng nghĩa trang - nên trông coi cũng dễ. Ðược cái ở đây lảnh, trẻ chăn trâu không vào mà người lớn cũng ít qua. Bây giờ tôi ở với thằng cháu nội. Nó đi học suốt ngày...
Ông Tiếp tập tễnh đứng dậy, bẻ một cành sim, lững thững ngược lên dốc.
Cũng giống như cả Trại Mới này, gia đình ông Tiếp ở miền xuôi Thái Bình chuyển lên đây theo phong trào xây dựng vùng kinh tế mới. Lúc ấy, Tiếp mới hơn chục tuổi. Tiếp và Ðào học lớp ba ở trường làng bên. Cả xóm trại chỉ có hai đứa học cùng một lớp. Hai đứa quấn quýt nhau từ hồi đó. Ðào kém Tiếp hai tuổi nhưng đã tỏ ra chững chạc lắm. Chính Ðào chứ không phải Tiếp, thông thạo và can đảm đi đường tắt trong rừng. Ðào hay rủ Tiếp đi hái sim hoặc nhặt quả dẻ. Chỗ Tiếp đang đi đây thuở đó đầy sim mua. Ðồi trập trùng toàn sim to. Hồi ấy bố Tiếp và mẹ Ðào đã có ý ngầm dắt hai đứa trẻ cho nhau. Mãi khi Tiếp trưởng thành mới biết chuyện đấy.
Ông cụ Bằng tay vung vảy chiếc điếu cày nhẵn thín, rảo bước đi sau ông Tiếp:
- Về chứ ông?
- Dạ, cụ về trước. Cháu...
- Ông cũng không nên ở đây lâu. Mà thôi, đến quán Nứa, chỗ hàng nước, tôi ngồi chờ.
Ông Tiếp dừng chân, chờ cụ Bằng đến ngang mình:
- Sao xã vẫn chưa xây mới nghĩa trang liệt sĩ hở cụ?
- Dào ôi, đã làm được đâu. Vẫn nghĩa trang từ năm 1970. Năm kia, làm ở đồng. Mới xây dở dang bức tường thì lại thôi, bảo lên đồi kẻo mất đất canh tác. Huyện yêu cầu thế, nghĩ cũng phải. Nhưng rồi suốt hai năm nay có đả động việc xây xất gì đâu. Nghe nói đang chờ dự án cải tạo quy hoạch nào đó. Dân kêu ca mạnh lắm...
Tiếp lên dốc rẽ vào đồi Chiến Thắng. Ông cụ Bằng xuống dốc, đi tới quán Nứa - nơi ngã ba, có con đường trải bê-tông rẽ vào làng Mới.
Tiếp dựa lưng vào cây thông già khẳng khiu. Phải, chính chỗ này đây...
Cách độ dăm ngày trước hôm lên đường nhập ngũ, Tiếp cùng với những thanh niên đi cùng đợt trồng cây lưu niệm theo chủ trương của Ðảng ủy xã. Các chi đoàn có người nhập ngũ đều cử đoàn viên tham gia. Tiếp vừa cuốc hố xong thì Ðào mang đến một cây thông, một cây xà cừ. Ðào ngồi thụp xuống, âu yếm:
- Anh trồng cây gì trước nào?
Tiếp chậc lưỡi:
- Cây gì cũng được.
- Mặc kệ, anh bảo cây gì cơ?
- Kìa, đưa mau lên, mấy đứa ở dưới đang nhìn lên, chúng lại trêu.
- Kệ, cây gì cơ?
- Thế thích cây gì?
- Thông.
- Ðưa đây.
- Nhưng anh thích cây gì?
- Thông.
- Thật không?
- Thật.
Ðào đặt cây xuống hố, hai tay vun đất mà mắt đăm đắm nhìn Tiếp. Tiếp luống cuống, mặt đỏ bừng, khẽ gắt:
- Lùi tay ra nào, kẻo cuốc lại vào.
- Kệ, anh ngồi xuống như em thế này để vun đất, đừng dùng cuốc nữa.
Ngày thường Ðào hay bẽn lẽn vậy mà hôm nay cứ làm nũng anh.
- Thế kia thì cứ vun suốt ngày cũng được!
Tiếp và Ðào giật mình quay lại. Bác Tường, xã đội trưởng, đã đến từ lúc nào, cười khà khà ở sau hai người.
Tiếng cô gái nào đó trong vắt ở phía đám sim mua lưng chừng đồi hắt lên:
- Phê bình bác Tường nhé. Bác cấm có tâm lý nào. Người ta đang...
Thế là rộ lên cả tiếng cười.
Tiếp ngượng ngùng đứng dậy, luống cuống:
- Bác lạ thật, chả vun thế này thì vun thế nào.
- Phải, đang vun vào đấy thôi - Lại tiếng cô gái ban đầu lanh lảnh cất lên.
Ðào quay mặt về phía ấy giơ nắm đấm lên, giọng cứ như hát:
- Cứ liều liệu cái Khánh đấy. Tao mà xuống thì mày chết.
- Ðố mày bỏ xuống đây với tao đấy.
Các cô ở dưới lại oà ra cười. Ðào quay mặt vào cũng mủm mỉm cười.
Ông xã đội trưởng đã đi không biết từ lúc nào. Ðào ngồi xuống, thủ thỉ:
- Kệ chúng nó... Anh Tiếp này, bây giờ trồng xà cừ nhé. Anh đặt cây, em vun cho.
Tiếp vẫn còn ngượng, nói mà nghe rõ cả tiếng thở:
- Thôi, tớ làm tuốt cho.
- Tớ! - Ðào nguýt dài.
- Thế đưa cây đây. Mau lên, bí thư chi đoàn gì cứ ngồi dí ở chỗ này.
Ðào phụng phịu:
- Cứ ngồi dí ở đây đấy. Anh không thích à? Gớm, em không ngồi ở đây lại có người sịu mặt.
- Ðừng hòng.
- Thật nhé?
- Ðùa đấy. Ðưa cây đây nào.
... Tiếp đứng dậy. Ba mươi lăm năm rồi, chóng thật. Mới ngày nào ngoài hai mươi tuổi, giờ tóc đã bạc gần hết. Những ai mới gặp Tiếp không thể tin rằng ông mới ngoài tuổi sáu mươi mà trông cứ như trên bảy mươi rồi. Chàng trai vạm vỡ thuở nào, nay chỉ là ông già nhỏ thó, đầy vết thương trong người, nhiễm chất độc da cam giặc Mỹ. Trừ đứa con trai đầu lòng - người con đã đưa ông về thăm quê lần này, còn ba đứa lần lượt đều ở dạng ngẩn ngơ.
Tiếp bước sang cây xà cừ. Gió nhè nhẹ thổi. Sau vòm lá xanh thẫm kia là vòm trời cao trong xanh uy nghiêm. Cái nền trời ấy đã bao lần anh và Ðào ngước lên, và những hôm trời đầy gió, cả hai đứa trẻ thích thú nhìn những đám mây trắng mỏng tang xô đuổi thành những hình thù kỳ dị.
Và đêm cuối cùng ở làng, vì sáng mai Tiếp lên đường nhập ngũ.
- Em bảo thật, anh thư ký đội nhé...
- Gì cơ Ðào?
- Anh biết anh chàng Thắm ở xóm ta chứ? Lúc đi cũng nói đâu ra đấy cả...
Tiếp gắt toáng lên:
- Cô định bảo tôi giống như thằng đào ngũ ấy à!
- Sao anh nóng nảy với em thế? Thì em có bảo gì đâu...
- Tôi lạ gì ý cô định nói nữa!
- Em không thích anh cứ ầm ầm thế đâu. Vả lại đêm hôm thế này, ai người ta nghe thấy...
- Ai bảo Ðào...Tôi đi một sống hai là chết, sống vinh quang mà chết cũng vẻ vang.
- Ðừng nói chết, anh. Em sợ lắm - Ðào oà ra khóc.
- Kìa, Ðào...
- Anh ơi, anh phải nhớ đến em. Dẫu là chưa cưới nhưng em đã coi mình là vợ của anh. Em chờ... chờ cho đến khi anh về. Nhất định là anh phải về.
- Tôi cũng nghĩ như thế.
Im lặng một lát. Ðào ngả đầu vào vai Tiếp, thầm thì:
- Anh không dám xưng anh à? Lúc nào cũng tôi. Ghét bỏ sừ.
- Nói không quen, ngượng lắm.
- Mặc kệ, anh quay mặt vào em, nói nhỏ chỉ cho em nghe thấy thôi. Anh nói đi.
- A... anh...
Tiếp quay mặt nhìn xuống làng. Bây giờ anh chỉ còn mỗi bà cô ruột. Bố anh mất sau hơn một tháng giải phóng miền nam giữa lúc anh đang mổ cấp cứu tái phát vết thương tại Bệnh viện Chợ Rẫy ở Sài Gòn. Hẳn bố anh ngày đêm nóng lòng chờ anh. Em gái anh đi dân công hỏa tuyến, lấy chồng tận xứ Nghệ. Anh được biết, Ðào là người lo toan chăm sóc bố anh nhiều nhất. Sau khi bố anh mất hơn hai năm, mẹ Ðào cũng vào cõi vĩnh hằng.
Nỗi đau lớn nhất với ông Tiếp là sau mấy chục năm mới về được quê. Họ hàng, dân làng trách ông, và dẫu ông đã thanh minh, giải thích, vẫn cứ day dứt trong lòng. Có lẽ chỉ bà cô ông mới thấu hiểu hoàn cảnh của ông. Cách đây hơn chục năm, bà với đứa con trai là sĩ quan quân đội đã cùng em gái ông lặn lội vào Tây Ninh thăm ông. Bà cứ ôm mặt khóc hu hu khi nhìn thấy ông khẳng khiu nằm trên giường trong căn nhà đất trống huênh trống hoác với mấy đứa con đần độn nằm, ngồi trên chiếc chiếu rách trải giữa nhà. Lần đến thăm ấy, bà đưa cho ông một túi giấy bóng, trong đó có những lá thư của Ðào chưa kịp gửi cho ông. Vài năm nay thằng con trưởng của ông đi làm, vợ ông cũng có việc, rồi Hội Cựu chiến binh tỉnh, Mặt trận Tổ quốc làm cho nhà, tăng thêm trợ cấp, ông mới có tiền về quê.
Ông Tiếp khó nhọc duỗi chân, vịn vào cây thông ở bên, ngồi phệt xuống đám cỏ xơ xác ven bụi cây hoa bướm, đăm đăm nhìn ra khoảng không phía trước.
Cuối năm bảy tám, với cương vị Bí thư xã đoàn, Ðào dẫn một đoàn gồm ba chục thanh niên đi dân công biên giới theo chủ trương của trên. Một đêm vượt sông Ðà, chiếc thuyền nhỏ nhoi chở Ðào cùng hai anh lính trinh sát trung đoàn đã bị cơn giông bất ngờ lật úp xuống vào tảng đá ngầm. Ðào lao đúng chỗ đá, bị nước cuốn trôi. Hai ngày sau người ta mới tìm thấy xác cô gái nổi lên ở phía hạ lưu.
Tiếp bưng mặt. Ông thấy người nóng rực lên. Thoảng đâu đây tiếng lá cây run rẩy, thì thào. Ông mở mắt. Cả đám cây hoa bướm mỏng mảnh, ẻo lả lúc lúc lại ríu vào nhau và dập dờn trong cơn gió thoảng.
Thẳng tầm mắt ông là làng. Làng của ông đấy. Cái làng trung du chỉ có bảy chục nóc nhà, lưa thưa nhà tầng nhà ngói, vẫn dày đặc tre pheo bao quanh cứ sâu đậm trong tâm trí ông. Ông chầm chậm rút trong túi ngực ra một túi gập ni-lông cứng. Ở đó có những bức thư.
"Anh Tiếp ơi. Thế này có lạ không. Em cũng đi nhiều nơi; thị xã em cũng ở, ven biển cũng đến, vậy mà em vẫy thấy làng mình là đẹp nhất. Ðố anh biết tại sao đấy? À, nhưng anh có nghĩ giống em không?...".
"Giờ mà anh về trông thấy em thì cứ tưởng là con ngoáo ộp. Thật đấy. Già lụ khụ này. Da nhăn nheo này. Lại gầy nhom nữa. Các cô ở trong làng vẫn phong em làm thiếu tướng phòng không đấy. Phen này về, anh tha hồ mà lên mặt với em".
"Anh bảo tận đầu năm tám mươi mới có thể về nhà cơ? Và tổ chức luôn? Lâu thế. Em ghét thế không biết. Cứ để em chờ. Anh có phải đàn bà đâu mà thấu. Ði biên giới về đợt này là em nuôi một lứa lợn nữa. Em nói thật đấy, lúc cưới là phải mổ ba lợn, mỗi con phải trên một tạ. Em có khối tiền dành dụm toàn do chăn nuôi cả...".
"Có lúc em nghĩ lẩn thẩn thế này, giá hồi ấy cưới xong anh hẵng đi thì giờ chúng mình đã có con lớn rồi. Em thèm có một đứa con. Em bây giờ trống trải quá. Nhưng cũng tại em cơ. À nhưng mà mẹ em vừa mất, ai lại cưới anh nhỉ? Thế còn ra thể thống gì. Ồ, hôm nay em làm sao ấy, cứ nghĩ lẩn quẩn thế nào, chán thật...".
Ông Tiếp gập lại mấy bức thư, lập cập cho vào túi ni-lông rồi nặng nề bước tới cây thông, vít một nhành sà ngay trước mặt, khẽ bẻ một đoạn. Từ chỗ gẫy, nhựa ứa ra. Một mùi hương ngan ngát, thâm trầm. Ðã lâu lắm rồi, ông mới cảm nhận một mùi hương như thế. Lạ chưa, cái cây thông mảnh mai dãi nắng dầm mưa trên một vùng đất sỏi đá; cái cây thông với lớp vỏ xù xì, nứt nẻ cái mầu nâu đất với những chùm lá nhọn, thô kệch lại có chất nhựa thơm đằm thắm, bền vững và da diết đến lạ lùng.
Ông cụ Bằng đã đến bên ông từ lúc nào.
- Ông làm gì mà ở đây lâu thế? - Giọng ông cụ bỗng nhỏ xuống, ấm áp - Về đi ông. Dễ sắp mưa to rồi đấy...