Trách nhiệm pháp lý của hành vi trốn thuế

Trách nhiệm pháp lý của hành vi trốn thuế

Cơ quan thuế ra quyết định xử phạt đối với các cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh đã có hành vi cố tình gian lận trốn tránh nghĩa vụ nộp thuế đối với Nhà nước. Nhưng có không ít trong số các đối tượng này không đồng ý với quyết định của cơ quan có thẩm quyền, khiếu nại về tính hợp pháp của quyết định cũng như thời hạn ra quyết định xử phạt từ khi có hành vi vi phạm đến khi bị phát hiện và biện pháp xử phạt... (cho rằng đã quá thời hạn hoặc vi phạm về thuế thì chỉ có thể áp dụng quy định của pháp luật về thuế để xử phạt...) đệ đơn ra tòa khởi kiện quyết định hành chính đó. Tại sao lại có những khiếu kiện này, căn cứ vào các quy định của pháp luật về thuế hay Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính để giải quyết...? Trước hết, các cơ quan thuế cần có sự thống nhất quan điểm, văn bản quy phạm pháp luật để giải quyết. Để rồi sau đó, khi tiếp nhận đơn khởi kiện, trên cơ sở đã có sự thống nhất việc áp dụng pháp luật Tòa án có thể quyết định ngay là có thụ lý hay không!

Trong thực tiễn giải quyết các khiếu kiện về thuế, khì các cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi kinh doanh trốn thuế, khi bị phát hiện, những đối tượng này sẽ bị cơ quan thuế ra quyết định xử lý vi phạm đối với hành vi gian lận, khai man nhằm trốn thuế. Trong quyết định xử lý vi phạm này thường có hai nội dung cơ bản đó là truy thu khoản thuế mà đối tượng đó đã gian lận, trốn thuế và xử phạt bằng tiền từ 1 đến 5 lần số tiền mà đối tượng đó đã gian lận, trốn thuế theo quy định của các luật thuế tương ứng.

Đối với các quyết định này, khi xem xét tính hợp pháp của nó thì chỉ cần căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành như Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 22/CP ngày 17-4-1996 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm trong lĩnh vực thuế là đủ. Tuy nhiên, vấn đề cơ bản và nổi cộm trong hầu hết các khiếu kiện quyết định này là thời hạn mà cơ quan thuế ban hành quyết định từ khi phát hiện vi phạm đến khi ra quyết định xử lý. Bản thân các cơ quan thuế cũng thường tỏ ra lúng túng vì chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể nên không có sự đồng nhất trong giải quyết. Ngay cả các cơ quan tiến hành tố tụng nhiều khi cũng ở trong tình trạng "tiến thoái lưỡng nan" vì không có căn cứ để ra quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ, hoặc nếu đưa vụ án ra xét xử thì lại thiếu văn bản hướng dẫn cụ thể... dẫn đến tình trạng cùng một vụ việc nhưng có tòa thì cho là đúng, có tòa lại có quan điểm ngược lại. Đây là vấn đề đã và đang tồn tại, hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về hướng giải quyết; để có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật (thời hạn xử phạt cũng như văn bản áp dụng) cần có một quan điểm chung để từ đó có văn bản hướng dẫn cụ thể!

- Có quan điểm cho rằng: Về thời hạn để cơ quan thuế ban hành quyết định truy thu và xử phạt hành chính thì phải tuân theo luật thuế tương ứng (thường là hai năm kể từ ngày cơ quan, tổ chức, cá nhân có hành vi kinh doanh trốn thuế đến ngày ra quyết định đối với việc truy thu thuế).

- Quan điểm khác thì lại cho rằng: Vì đây là quyết định xử lý vi phạm hành chính, nên thời hạn và thủ tục ban hành quyết định của cơ quan thuế phải tuân thủ theo quy định của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và Nghị định số 22/CP ngày 17-4-1996 của Chính phủ quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế.

Thiết nghĩ hai quan điểm trên đều có phần hợp lý, nhưng nếu chỉ căn cứ vào Luật thuế thì sẽ thiếu căn cứ, còn nếu áp dụng cả Pháp lệnh và Nghị định như thế nào cần có quy định cụ thể. Sẽ hợp lý hơn khi áp dụng Pháp lệnh và Nghị định nói trên để giải quyết. Tuy nhiên, khi áp dụng cần có quy định cụ thể: Nếu xem xét về thời hạn ban hành quyết định phần truy thu thuế thì phải căn cứ vào quy định của các luật thuế tương ứng và khi xem xét về thủ tục, thời hạn ban hành quyết định phần xử phạt, thì khi quyết định cần căn cứ vào quy định tại Pháp lệnh và Nghị định. Sở dĩ như vậy vì: tại quyết định xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế của cơ quan thuế có thẩm quyền có hai nội dung là truy thu thuế và xử phạt từ 1 đến 5 lần số tiền mà các cơ quan, tổ chức cá nhân có hành vi kinh doanh trốn thuế. Thời hạn để truy thu thuế và xử phạt có thể là rất dài, tùy thuộc vào quy định của các luật thuế tương ứng (thí dụ: đối với việc truy thu thuế và xử phạt theo Luật Thuế giá trị gia tăng hoặc Thuế thu nhập doanh nghiệp thì thời hạn là 5 năm trở về trước kể từ ngày kiểm tra phát hiện có sự giả mạo, khai man trốn thuế theo quy định tại khoản 4 Điều 24 Luật Thuế giá trị gia tăng hoặc khoản 4 Điều 29 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp).

Mặt khác, khi xem xét tính hợp pháp của loại quyết định xử phạt hành chính này, cần lưu ý phần xử phạt bằng tiền từ 1 đến 5 lần số tiền mà các cơ quan, tổ chức, cá nhân kinh doanh đã trốn thuế; để có sự thống nhất trong việc áp dụng pháp luật thì về mặt thủ tục cơ quan thuế phải tuân thủ theo quy định tại chương VI Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính và Điều 10 Nghị định số 22/ CP ngày 17-4-1996 của Chính phủ quy định về việc xử phạt hành chính trong lĩnh vực thuế.

Có thể bạn quan tâm