Chúng ta đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của cách mạng khoa học và công nghệ, nhất là công nghệ thông tin và công nghệ sinh học, làm gia tăng lực lượng sản xuất và tạo ra sự thay đổi sâu sắc cơ cấu sản xuất, phân phối, tiêu dùng, thúc đẩy quá trình quốc tế hóa, xã hội hóa nền kinh tế, cũng như quá trình tham gia của mỗi quốc gia vào phân công lao động và hợp tác quốc tế. Ðây chính là đặc điểm cơ bản của kinh tế thế giới hiện nay. Chính đặc điểm này tạo ra sự liên kết và phụ thuộc lẫn nhau ngày càng cao giữa các quốc gia và khu vực trên thế giới. Các định chế và tổ chức kinh tế - thương mại khu vực và quốc tế đã được hình thành để phục vụ cho quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, tạo lập hành lang pháp lý chung để các nước cùng tham gia vào quá trình giải quyết các vấn đề lớn của kinh tế thế giới mà không một quốc gia nào có thể thực hiện một cách đơn lẻ.
Biểu hiện cơ bản của quá trình hội nhập kinh tế là xu hướng tăng cường hợp tác song phương, liên kết khu vực, hợp tác liên khu vực và đẩy mạnh hợp tác trên bình diện đa phương.
Thời gian qua, một làn sóng tự do hóa thương mại đang diễn ra sôi động chưa từng có trên thế giới với việc hình thành các khu vực Thương mại Tự do (FTAs) và các thỏa thuận Thương mại Khu vực (RTAs). Cho đến nay, hầu như tất cả các nước trên thế giới là thành viên, hoặc đang đàm phán tham gia, ít nhất một FTAs hoặc RTAs và khoảng hơn 50% tổng giá trị giao dịch thương mại toàn cầu được tiến hành thông qua các thỏa thuận thương mại khu vực. Tính đến tháng 5-2003 đã có khoảng 250 hiệp định thương mại tự do song phương (BTAs) và khu vực đã được thông báo cho WTO, trong đó 130 hiệp định được thông báo sau tháng 1-1995. Ðến cuối năm 2005, nếu các hiệp định thương mại tự do (song phương và khu vực) đang được đàm phán hoặc đã được ký kết thì tổng số hiệp định thương mại tự do có hiệu lực có thể lên đến 300 hiệp định. Thực tế này có căn nguyên chính xuất phát từ việc các chương trình hợp tác trong khuôn khổ đa phương gặp nhiều trục trặc với thất bại của hai kỳ hội nghị Bộ trưởng WTO tại Seattle (Hoa Kỳ) và Cancun (Mexico). Một nguyên nhân nữa là nhiều nước phát triển không còn đủ kiên nhẫn vì "quá thất vọng" với tiến trình chậm chạp của các chương trình tự do hóa thương mại khu vực và đa phương cho nên đã mạnh dạn "xé rào" tìm kiếm sự hợp tác mới nhằm đẩy nhanh tiến trình tự do hóa thương mại.
Mặc dù vậy, xu hướng tăng cường hợp tác đa phương vẫn thể hiện rõ nét qua việc ngày càng có nhiều nước xin gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). WTO được thành lập ngày 1-1-1995 là kết quả của vòng đàm phán Uruguay kéo dài trong suốt tám năm (1986 - 1994) nhằm đáp ứng yêu cầu phát triển của thương mại thế giới và là sự kế thừa của Hiệp định chung về Thuế quan và Thương mại (GATT) 1947. Khi mới thành lập GATT năm 1947 chỉ có 25 thành viên, WTO ra đời năm 1995 với 124 thành viên, đến nay đã có 148 thành viên được kết nạp và khoảng gần 30 nước đang xin gia nhập. Các thành viên WTO chiếm khoảng 85% tổng thương mại hàng hóa và 90% thương mại dịch vụ toàn cầu (Năm 2002 tổng giao dịch thương mại hàng hóa toàn cầu là 13.109 tỷ USD và thương mại dịch vụ là 3.060 tỷ USD). Năm 2001, quốc gia đông dân nhất thế giới là Trung Quốc đã trở thành thành viên của WTO, với dân số hơn 1,3 tỷ người chiếm một phần năm thị trường tiêu dùng của thế giới (lớn hơn bất cứ một khu vực thương mại tự do nào), sự kiện này sẽ tác động không nhỏ đến kinh tế-thương mại thế giới và đến Việt Nam. Gần đây nhất, hai nước là Cam-pu-chia và Nepal cũng đã được kết nạp vào WTO. Từ khi WTO khởi đầu vòng đàm phán mới (Vòng Doha) đã có một số nước đang phát triển gia nhập vào tổ chức này. Một vài nước đã rút ngắn quá trình đàm phán, thậm chí bỏ qua hầu hết các bước để nhanh chóng được kết nạp. Nhân tố đó cho thấy WTO ngày càng có một vai trò hấp dẫn hơn đối với các nền kinh tế đang phát triển trong bối cảnh hội nhập và toàn cầu hóa kinh tế. Hiện nay, các thành viên của WTO đang đẩy nhanh Vòng đàm phán Doha với việc ngày 31-7-2004 WTO đã thông qua gói Hiệp định khung và những thỏa thuận khác trong các lĩnh vực: nông nghiệp, tiếp cận thị trường cho các sản phẩm phi nông nghiệp, các vấn đề phát triển và thuận lợi hóa thương mại.
Các nước ngày càng có xu hướng ít sử dụng những biện pháp bảo hộ mang tính lộ liễu như áp đặt lệnh cấm, hạn chế số lượng hoặc áp đặt thuế suất thuế nhập khẩu cao. Thay vào đó, các biện pháp bảo hộ được lồng vào những lý do chính đáng như để bảo vệ những ngành sản xuất trong nước trước những hành động thương mại không lành mạnh. Các nước phát triển áp dụng chính sách bảo hộ nông nghiệp với mức trợ cấp trung bình một tỷ USD/ngày cộng với các hàng rào kỹ thuật về an toàn thực phẩm, môi trường, lạm dụng quy định về chống bán phá giá, tự vệ, chống trợ cấp, thủ tục hải quan, ghi nhãn mác... kết hợp các biến động chính trị đã làm cho thương mại toàn cầu năm 2002 chỉ tăng 2,5% so với 6,5% của những năm 90 của thế kỷ 20. Chính vì vậy, cho nên từ Hội nghị Doha đến Hội nghị Cancun, WTO chủ trương mở rộng đàm phán toàn diện trên cả bốn lĩnh vực: thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, đầu tư liên quan thương mại, sở hữu trí tuệ và một số vấn đề mới phát sinh nhằm thúc đẩy tiến trình tự do hóa thương mại. Tại Hội nghị Cancun tháng 9 vừa qua, các nước đang phát triển liên kết thành nhóm G22 lên tiếng đòi thương mại phải công bằng, bình đẳng, yêu cầu các nước phát triển mở cửa thị trường và bỏ trợ cấp nông nghiệp, trợ cấp xuất khẩu đã phát huy tác dụng.
Các quy định về an toàn thực phẩm trong thương mại quốc tế hiện cũng là một rào cản lớn đối với hàng nông sản, thủy sản xuất khẩu của Việt Nam. Những quy định về dư lượng kháng sinh quá mức cần thiết và không có cơ sở khoa học của EU, Mỹ, Canada (như quy định tỷ lệ Chloramphenicol, Nitrofural) và yêu cầu giới hạn phát hiện của thiết bị kiểm tra 0,3/tỷ là dưới mức cần thiết và vô lý. Ðiều này gây khó khăn rất lớn cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam. Trong khi đó, Việt Nam lại chưa có kinh nghiệm về thiết lập cơ chế cũng như điều kiện để xây dựng hệ thống kiểm tra kiểm soát về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với thủy sản nhập khẩu. Do đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản của Việt Nam hiện nay và trong thời gian tới chắc chắn sẽ bị hạn chế do các yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm của các nước, nếu ta không chủ động có biện pháp quản lý và tăng cường hệ thống kiểm soát chất lượng.
Xu hướng gắn hoạt động thương mại với việc giữ gìn và tôn tạo môi trường sinh thái ngày càng phổ biến trên thế giới. Ngoài lý do về chất lượng của sản phẩm, những yêu cầu về môi trường đối với sản phẩm cũng đang được coi là những "Rào cản thương mại trá hình" mà ngôn ngữ thương mại thường gọi là "Hàng rào xanh" - green barrier - nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước và ngăn chặn sự xâm nhập của hàng nhập khẩu. Các nước phát triển đã và đang sử dụng các tiêu chuẩn về môi trường, như một rào cản thương mại "hợp pháp", nhằm làm giảm tính cạnh tranh và hạn chế nhập khẩu hàng hóa từ các nước đang phát triển. Những tiêu chuẩn này nhiều khi được đặt ra quá cao so với trình độ kỹ thuật cũng như công nghệ sản xuất của các nước đang phát triển, thậm chí đối với cả một số nước phát triển. Chính vị sự áp dụng các tiêu chuẩn về môi trường trong hoạt động thương mại nhiều khi chưa thật chính đáng như vậy, đã gây cho các nước đang phát triển một số khó khăn trong quá trình tiếp cận thị trường của các nước phát triển.
Trên thực tế, một số khảo sát gần đây cho thấy, không nhiều doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam hiểu và nắm vững về các quy định về môi trường của WTO. Các doanh nghiệp xuất khẩu hiện nay chủ yếu chỉ chủ động thực hiện tiêu chuẩn môi trường trong thương mại thông qua việc áp dụng hệ thống quản lý chất lượng ISO 14000. Tuy nhiên, do chi phí để áp dụng hệ thống này khá lớn, ảnh hưởng chi phí kinh doanh, cho nên trên thực tế chỉ mới có những doanh nghiệp lớn có đủ khả năng tài chính đáp ứng yêu cầu hệ thống quản lý chất lượng này để xuất khẩu vào các thị trường có yêu cầu về môi trường cao như Nhật Bản, Hoa Kỳ, EU.
Những nhân tố nói trên đang tạo ra áp lực thách thức khả năng và tiến độ hội nhập kinh tế quốc tế của chúng ta. Khi chúng ta chưa kịp tiến lên bắt kịp với thế giới thì đã lại tiếp tục bị bỏ lại đằng sau trước một trào lưu mới. Nó đòi hỏi cần phải có những nỗ lực liên tục và gắng sức để có thể bắt kịp với xu thế phát triển của thế giới.
MINH THẮNG