Tò he một thuở yêu thương

Tò he.
Tò he.

Cụ Nguyễn Thị Nùng với tay lên chiếc đinh mắc trên tường lấy xuống một bọc ni-lông, vừa mở ra, vừa nói: “Ðây này, đồ nghề của ông í đi làm hồi rằm tháng tám về, đang để nguyên xi. Vừa đi nặn dưới Hà Nội về, có người ở trên Sơn Tây gọi ông ấy đi phụ hồ, thế là đi luôn, đến cả tháng nay rồi. Bột này, mầu này, sáp này. Còn có từng này bột thì phải làm thêm chứ vụ Tết này thì làm sao mà đủ được”.

 
Nghệ nhân Đặng Văn Tố
đang say mê với nghề.

Cụ thoăn thoắt cho bột ra tô, chuẩn bị cho công đoạn đầu tiên. Anh Út Nhất- con trai của cụ- là một trong số đông thanh niên trai tráng của làng đang sống bằng nghề này. Năm nay anh chưa đến ba mươi nhưng đã có thâm niên mười mấy năm trong nghề.

Biết chúng tôi muốn tìm hiểu về làng nghề của quê hương mình, anh hồ hởi hẳn, khoe ngay: Chị biết không, năm nay, làng em có cụ Tố được đi Nhật Bản để nặn tò he rồi cơ đấy. Dạo này, xe dưới Hà Nội về đây đón người làng em đi làm nhiều lắm, sáng nay, vừa có hai xe về đón người đi làm dưới í đấy.

Nhìn bàn tay đang thoăn thoắt véo vào mẩu bột dẻo quánh, vê vê trong chốc lát, đã hiện lên hình hài ông Bao Công, Lưu Bị, Triển Chiêu, tôi bồi hồi nhớ lại tuổi thơ nghèo của lũ trẻ con quê.

Phiên chợ Tết, được mẹ cho đi chợ. Với đôi guốc gỗ gõ lách cách, bộ quần áo mới luôn luôn dài rộng thùng thình (để trừ hao sang năm lớn là vừa, mẹ tôi thường bảo thế), đứa nào cũng hạnh phúc lắm. Thích nhất là ông già ngồi nặn tò he ở góc chợ. Năm nào tôi cũng chọn cho mình lão Tôn Ngộ Không, với bộ áo vàng, chiếc vòng kim cô trên đầu và chiếc gậy với 72 phép thần thông. Về đến nhà, đi ngủ rồi vẫn đặt lão Tôn bên cạnh, trong mơ thấy lão co chân, múa gậy đánh yêu quái...

 
Ở một góc công viên.

Nhoáng một cái, Út Nhất đã nặn xong bốn ngài rồi. Mỗi ngài ngự trên chiếc gậy tre con con. Ðúng là trai làng nghề. Hai cu cậu sinh đôi của anh, mới đi học lớp một, thấy bố ngồi nặn cũng lại vân vê nghịch. Bàn tay vê bột trông điệu nghệ ra trò.

Út Nhất vừa làm vừa tiếp chuyện chúng tôi: “Ðến vụ, tầm tháng Tết rồi tiếp theo là tháng hội hè liên miên ở các nơi, là mùa làm ăn của làng em. Hội lớn như Hội Ðền Hùng chẳng hạn, tụi em rủ nhau có khi hàng chục người, đi làm ăn mà vui như hội. Cứ hai người một xe máy,với hộp đồ nghề đằng sau lưng nữa là chúng em có thể rong ruổi khắp nơi để hành nghề. Chính vì vậy mà dù nghèo thì nghèo, nhưng hầu như nhà nào cũng có xe máy. Người làng em có mặt khắp nơi. Cứ nghe đài, xem ti-vi, thấy nơi nào tổ chức lễ hội, hay hội chợ là chúng em đến. Ði theo nhóm bằng xe máy nên không vất vả như các cụ ngày xưa”.

Bà Nùng ngồi bên cạnh con, cũng góp vui: “Nhà tôi có ba bốn đời làm nghề này rồi đấy cô ạ. Ðến bây giờ, mang tiếng đông con mà nhà lúc nào cũng vắng vẻ, chúng nó đi làm ăn các nơi hết. Ðến đêm ba mươi thanh niên về  làng mới đông vui được dăm ngày. Rồi lại lần lượt ra đi”.

 
Tò he.

Theo sự chỉ dẫn của mẹ con Út Nhất, chúng tôi tìm đến nhà cụ Ðặng Văn Tố. Cụ sống trong một ngôi nhà ngói ba gian cổ kính. Ngôi nhà này có tuổi thọ  còn hơn cả tuổi đời của cụ, mà cụ năm nay cũng đã ngoài tám mươi với chòm râu dài bạc phơ. Cụ Tố vẫn còn khỏe mạnh lắm. Phòng tiếp khách với nhiều bức hoành phi câu đối, chỉ có tấm bằng công nhận Nghệ nhân dân gian đóng khung đặt trang trọng là còn tươi mới, có vẻ mang hơi thở thời đại nhất. 

Cụ Tố chậm rãi: “Trước kia, vùng đất của chúng tôi là đất đồng chiêm, mỗi năm chỉ cấy được một vụ lúa. Lúc nông nhàn, tháng ba ngày tám, các cụ tôi mới nghĩ ra việc nặn con giống, trước là để lễ, sau làm đồ chơi cho lũ trẻ quê, kiếm đồng ra đồng vào. Rồi dần dần, nặn tò he trở thành nghề của làng. Ngày xưa chúng tôi làm vất vả hơn nhiều. Bột thì phải giã. Mầu thì chỉ có bột nghệ, hoa hiên, phẩm đen, toàn mầu tự tạo. Thời tôi còn bé, tôi nhớ các cụ chỉ nặn mấy thứ thôi, ví như mâm xôi phẩm oản, nải chuối buồng cau, gà, vịt, rồi các nhân vật trong phim Trung Quốc như Tam Quốc, Thủy hử... còn lũ trẻ bây giờ chúng nó có thể nặn đủ thứ, nào anh bộ đội, chú công an, thủy thủ mặt trăng... Vừa rồi, chúng nó nặn cả trâu vàng “xi gêm” nữa đấy.

 Tuy tính chất công việc của nghề hoàn toàn thủ công, tự tạo, không hề có một khuôn mẫu nhất định nào, nhưng mầu thì bán sẵn, nhiều hơn, lũ trẻ được tiếp xúc với nhiều phương tiện thông tin đại chúng hơn nên mẫu mã cũng phong phú hơn trước nhiều. Mà cũng phải nói lũ trẻ làng tôi bây giờ khá lắm. Cùng với thời gian, nghề này cũng được cải tiến dần. Chúng nặn nhiều thứ bây giờ mình không xem ti-vi thì cũng chẳng biết được. Toàn những nhân vật trên phim hoạt hình. Thằng chắt nhà tôi hôm nọ bảo tôi nặn cho nó thằng gì gì đó trên phim, tên tây tôi chả nhớ, chả biết đấy là đâu, nó cứ nhằng nhẵng đòi”...

Tôi gợi chuyện cụ đi Nhật Bản về, cụ kể: “Sau khi được Hội văn nghệ dân gian tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian, nhiều báo đài đến phỏng vấn lắm. Rồi nhân có triển lãm về ngành nghề thủ công truyền thống ở Nhật Bản, tôi có biết đấy là đâu, thấy các anh dưới Hà Nội mời đi, rồi họ lo cho hết. Tôi chỉ đi sang đấy nặn con giống, trưng bày cho người Nhật xem. Chà chà, họ thích lắm. Có người ngồi hàng buổi xem, rồi hôm sau lại đến”...

Rồi cụ kể chuyện, có đôi vợ chồng trong nam ra, tìm đến cụ. Họ yêu cầu cụ nặn 90 con giống, toàn những thứ lâu lắm rồi chẳng ai nhắc đến như cối giã trầu, trẻ đánh chuyền, đánh đáo, trẻ chăn trâu, con mèo trèo cây cau, các nhân vật lịch sử như Ðề Thám, Lê Lợi, Quang Trung... Họ ngắm nghía rồi chụp ảnh kỹ lưỡng, cứ trầm trồ, rằng chụp để lưu giữ lại, rằng rồi đây, lũ trẻ chẳng biết đến những thứ này nữa...

Cụ Ðặng Văn Tố là một trong những người cao tuổi nhất của làng. Chính vì vậy, tuy cụ không nhanh nhạy với cái mới nhưng khách đến làng ai cũng thích tìm đến cụ.

Cụ cứ băn khoăn, rằng làng có sáu, bảy dòng họ lớn, họ nào cũng làm nghề mà đến nay không biết cụ tổ nghề là ai, thuộc dòng họ nào. Hầu hết các làng nghề đều có ông tổ nghề, có ngày giỗ tổ để con cháu tìm về mà nghề của làng cụ lại không có.

Tuy nhiên, nói là nói vậy, sự khôi phục làng nghề cũng là sự cố gắng nỗ lực của người dân. Một thời gian dài, làng tò he cũng bị lãng quên, mai một. Người dân đã đi khắp nơi, làm đủ nghề để sống. Vậy mà nhờ năng động, họ đã đánh thức được làng nghề. Ðể bây giờ, loáng thoáng nơi nào đang có hội hè đình đám, nơi nơi nào có triển lãm, hội chợ, họ nắm được hết, và tổ chức cả đoàn đến hành nghề.

Hiện nay, bên cạnh nhịp sống hiện đại, dân ta đang có trào lưu rất đáng khích lệ là quay lại với những giá trị truyền thống. Làng Xuân La, sự nỗ lực tự thân của người dân trong việc phát triển làng nghề là một việc làm đáng trân trọng. Rồi đây, hình ảnh những con tò he xanh đỏ không còn là món quà dành cho trẻ quê nữa mà đến được với bạn bè quốc tế, như một nét tinh tế của người nhà quê ở Việt Nam vậy.

Có thể bạn quan tâm