Theo nhận định của các chuyên gia kinh tế, khu vực Trung Đông đang tăng trưởng mạnh, nhất là nhờ giá dầu tăng cao trở lại. Trong 16 quốc gia ở khu vực này, quan hệ thương mại của Việt Nam chủ yếu tập trung vào 6 quốc gia thuộc Hội đồng hợp tác vùng Vịnh (GCC) gồm UAE, Arab Saudi, Kuwait, Bahrain, Qatar và Oman.
GCC có tổng dân số khoảng 65 triệu người, các quốc gia thuộc GCC có nền kinh tế mở, phát triển ngoại thương, thu hút đầu tư nước ngoài, du lịch, dịch vụ, đa dạng hóa nền kinh tế. Thu nhập bình quân đầu người của các quốc gia thuộc GCC ở mức cao. Năm 2021, ở Qatar là 60.000 USD/người/năm; UAE là 41.000 USD/người/năm; Kuwait là 25.000 USD/người/năm; Arab Saudi là 22.000 USD/người/năm.
Vài năm gần đây, kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam với các nước GCC gia tăng nhanh chóng, và tăng đột biến từ năm 2012 đến nay. Năm 2012, kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam với các nước GCC đạt 2,7 tỷ USD, tới năm 2021 đã tăng gấp 4,6 lần, đạt 12,5 tỷ USD.
Ông Ngô Toàn Thắng, Đại sứ đặc mệnh toàn quyền Việt Nam tại Kuwait, cho rằng, cơ hội cho doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường GCC đang rộng mở với nhiều thuận lợi. Việt Nam có quan hệ ngoại giao, quan hệ hợp tác truyền thống hữu nghị lâu dài với các nước GCC. Hai bên có khuôn khổ pháp lý khá đầy đủ cho việc tăng cường quan hệ hợp tác. Việt Nam đã ký các hiệp định hợp tác kinh tế, thương mại và khoa học kỹ thuật với 5 nước; ký hiệp định thương mại với 2 nước; hiệp định tránh đánh thuế hai lần với 5 nước; hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư với 4 nước... Khối GCC có sức mua lớn, khả năng thanh toán cao do có nguồn tài chính dồi dào. Cơ cấu mặt hàng xuất, nhập khẩu của GCC khá phù hợp với những mặt hàng xuất khẩu thế mạnh và nhu cầu của Việt Nam. Thuế nhập khẩu của khối GCC khá thấp.
Ông Nguyễn Tuấn, Phó Giám đốc Trung tâm Xúc tiến Thương mại và Đầu tư TP Hồ Chí Minh (ITPC) cho biết, các quốc gia Trung Đông có nhu cầu nhập khẩu rất lớn đối với các mặt hàng đồ gỗ, sản phẩm nhựa, ngũ cốc, dệt may, giày dép, cao-su và sản phẩm cao-su, thịt, sữa và sản phẩm sữa, rau quả… Đây là những mặt hàng thế mạnh của Việt Nam, tuy nhiên, tỷ trọng các mặt hàng này của Việt Nam trong cơ cấu hàng nhập khẩu của các nước Trung Đông vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng của hai bên.
Thống kê cho thấy, Trung Đông nhập khẩu khoảng 80% các mặt hàng lương thực, thực phẩm, tương đương khoảng 40 tỷ USD mỗi năm. Đến năm 2035, dự kiến tổng giá trị nhập khẩu lương thực, thực phẩm của các nước vùng Trung Đông sẽ tăng lên khoảng 70 tỷ USD/năm.
Một thuận lợi khác cho các doanh nghiệp khi xuất khẩu sang Trung Đông là mức thuế nhập khẩu chỉ từ 0-5% đối với hàng hóa nhập khẩu từ bên ngoài khối.
Với TP Hồ Chí Minh, Trung Đông là một thị trường đầy tiềm năng và còn nhiều dư địa để khai thác. Thời gian qua, kim ngạch xuất khẩu của thành phố với các quốc gia Trung Đông tăng đều theo các năm. Đối với UAE, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu năm 2021 của các doanh nghiệp thành phố ước đạt 340 triệu USD; trong đó xuất khẩu ước đạt 230 triệu USD, tăng 12% so với năm 2020. Xuất khẩu của các doanh nghiệp thành phố sang Iraq hơn 130 triệu USD trong năm 2021, tăng 21% so với năm 2020. Các mặt hàng chủ lực của thành phố xuất khẩu sang thị trường các nước Trung Đông gồm thủy hải sản, rau củ quả, cà-phê, hạt tiêu, dệt may, máy tính và linh kiện điện tử, linh kiện điện thoại…
Hiện, các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn khi tiếp cận thị trường Trung Đông như thiếu thông tin, những rào cản về logistics và thanh toán quốc tế. Doanh nghiệp rất cần nhận được sự hỗ trợ từ các cơ quan, tổ chức ngoại giao của Việt Nam tại khu vực Trung Đông cũng như các cơ quan xúc tiến thương mại và đầu tư trong nước.
Bà Nguyễn Thị Ngọc Hằng, Giám đốc Marketing Văn phòng chứng nhận Halal-HCA Việt Nam chia sẻ, thị trường các nước Hồi giáo, trong đó có các nước Trung Đông, có rất nhiều tiềm năng để doanh nghiệp Việt khai thác. Đây là thị trường có văn hóa kinh doanh đặc biệt và thường yêu cầu phải có chứng nhận Halal. Chứng nhận Halal là chương trình đánh giá theo chuẩn mực quốc tế cho sản phẩm, dịch vụ có trách nhiệm, do đó lợi ích của chứng nhận Halal là vô cùng lớn. Nó giúp doanh nghiệp có thể đáp ứng được các yêu cầu khi xuất khẩu vào các quốc gia Hồi giáo, được người Hồi giáo tin tưởng mua, sử dụng và tạo lòng tin cho người tiêu dùng. Do đó, doanh nghiệp Việt cần tìm hiểu kỹ các quy định khi xuất khẩu sang các quốc gia Hồi giáo, trong đó có các nước thuộc khu vực Trung Đông…