Tìm những vở chèo cổ đã mất

Cảnh trong vở chèo "Hồ Xuân Hương".
Cảnh trong vở chèo "Hồ Xuân Hương".


Ðúng là mấy chục vở chèo cổ mang "dã sử" bằng nghệ thuật thi ca dân gian: mỗi vở là một mảng xã hội thu nhỏ mang tính giáo dục nhẹ nhàng mà sâu sắc, nay không còn! Bây giờ có lý sự bao nhiêu thì kết quả đáng buồn kia cũng chẳng giải quyết được gì nếu không nhanh chóng tìm và có các giải pháp hữu hiệu.

Tôi xin đề nghị:

- Chèo là một loại dân ca dân gian, phát triển thành một bộ môn dân ca hoàn chỉnh về nhiều mặt, tồn tại phát triển gắn chặt với cộng đồng làng xã. Nay đầu tư khuyến khích nhân dân khôi phục lại theo hướng đó. Những điểm sáng về chèo hiện nay ở Hà Tây, Thái Bình, Nam Ðịnh... nên đầu tư công sức, tiền của về đó để làm. Những đoàn chèo chuyên nghiệp nên có bộ phận chuyên sưu tầm chèo cổ.

- Ði tìm các nghệ nhân giỏi chèo còn lại, (còn không nhiều nhưng cũng không ít) khuyến khích tinh thần, vật chất, thỏa đáng cho các "cụ" (nếu không có ăn thì nghệ nhân phải làm việc khác để kiếm sống, không làm chèo được), và tất nhiên phải tổ chức truyền dạy và ứng dụng phù hợp.

Người làm và xếp tích trò trong chèo xưa nay được coi như người sáng tác kịch bản. Người bày trò hay xếp trò: đạo diễn. Người làm trò: "đào kép" (diễn viên). Diễn các vở chèo gọi là diễn tích trò.

Người xếp tích trò thường dựa vào câu chuyện có thật, hoặc truyền thuyết trong xã hội; xây dựng nên các nhân vật. Những nhân vật ấy có thật hoặc hư cấu, cốt làm sao tích truyện có các nhân vật hay. "Mẹ đốp" trong vở chèo Quan Âm Thị Kính (QÂTK) là một nhân vật hư cấu. Khi xuất hiện, mẹ đốp xưng danh: "Chẳng dấu gì bà con, mẹ đốp chính là tôi", chị hát ví: "Thương chồng nên phải lầm than, ai đâu có bắt việc quan đàn bà" (ngày xưa đàn bà không được làm việc quan; nghĩa là không có mẹ đốp thật). Rồi mẹ đốp giãi bày thêm hoàn cảnh: "Ba tiếng mõ này là để nuôi chồng, nuôi con tôi đây" (đốp, đốp, đốp). À ra vậy! Tuy là vợ anh mõ, nhưng mẹ đốp cũng được đi làm "việc quan" thay chồng. Vậy là mẹ đốp đã có "danh chính, ngôn thuận" để nói năng xưng hô, làm việc theo chức trách và hầu chuyện các quan viên làng xã.

Vai trò mẹ đốp trong chèo QÂTK thì nhiều người đã rõ; còn tôi, mượn vai trò mẹ đốp làm thí dụ để bàn luận và đề xuất đôi điều về bộ môn chèo của nước ta hiện nay.

Chèo là loại ca hát dân gian. Lúc sơ khai nó phát sinh, phát triển theo hình thức kể chuyện. Người kể các tích, về hình thức, kể như nói chuyện bình thường, có khi kể theo văn vần hoặc theo lối kể vè, đến lúc có các thể loại thơ ca thì kể theo thơ ca, có ngân nga, luyến láy, ngâm vịnh (thơ Việt Nam có nhiều thể loại khi đọc bình thường đã như ca hát). Mục đích là mua vui, thu hút người nghe.

Nhân vật trong chèo rõ nhất còn mang đậm dấu ấn kể chuyện xưa lưu đến nay là các vai hề. Làn điệu kể chuyện rõ nhất, còn lưu lại "nói lối", "nói sử" và hát "nồi niêu". Theo tiến hóa xã hội, môn kể chuyện như trên dần hình thành nên các bộ môn: chèo, xẩm, chúc tụng ở các đám khao vọng, tết tư và lễ hội sau này.

Dựa vào các tích trò, ông cha ta xây dựng nên hàng chục vở chèo; với hàng trăm làn điệu chèo cổ. Hàng trăm làn điệu chèo ấy nó gắn chặt vào các vai diễn trong các tích trò.

Chẳng hạn như: Nếu không có vai mẹ đốp thì lấy ai để đưa một vai trò, của một người được xem như là "mạt hạng" nhất trong xã hội thời trước lên làm "đối trọng" để "đốp chát" với các vị quan viên, cạy quyền, cạy chức, nạt nộ, gian giảo, lập lờ ăn người, nhưng lại kém phẩm giá và ứng xử, bị mẹ đốp giáng cho những "đòn" nên thân, qua các làn điệu chèo.

Nếu không có vai thị Mầu lên chùa gặp tiểu Kính Tâm ngồi gõ mõ, thì làm sao có được điệu chèo "cấm giá". Thị Mầu: "Ấy mấy thầy tiểu ơi". Tiểu Kính: "Niệm nam mô a di đà phật". Cùng một làn điệu, hai người hát nối tiếp nhau, trong hai ngữ cảnh, ngữ điệu trái ngược nhau! Và, tiểu Kính Tâm, với điệu chèo "vãn ba than", "áo chít cài khuy, trá hình nam tử quyết đi tu hành, cầu Phật tổ người chứng minh". Hoặc điệu chèo "ru kệ": "Cha con ta bồng bế lên đường, đi ăn mày giáo sữa mười phương độ trì. Tay chuông tay mõ rù rì, ru rồi tôi lại tụng, độ trì Như Lai. Ðiệu "kể hạnh": "Âu là kiếm be sành một chiếc, đi ăn mày giáo sữa mười phương...".

Mở rộng ra các vai diễn ở các vở chèo khác: Vai Súy Vân giả dại; với tâm thần bất định, của người con gái đã đi làm vợ mà lại còn tham vàng bỏ ngãi, rồi hối hận, nuối tiếc từ giả điên, sang điên thật... nên mới có điệu chèo "hát xuôi, hát ngược": "Trống cơm khéo vỗ nên vông, một đàn con gái lội sông té bèo... trong đình có khua, có nhôi. Trong nón có kèo, có cột... con Vâm (voi) ấp trứng ba ba. Cho người cưỡi gà đi đánh giặc.

Có những làn điệu chèo chỉ gắn với một nhân vật. Nói cách khác; chỉ có vai trò ấy, mới có làn điệu ấy. Nay để mất các vai trò trong các tích trò thì nhiều làn điệu chèo sẽ mất theo.

Có thể bạn quan tâm