Tìm hướng đi cho du lịch văn hóa tâm linh

Đồng bằng sông Hồng là nơi có mật độ di tích lịch sử văn hóa nói chung, di tích tín ngưỡng nói riêng lớn nhất nước, vì thế, đây là khu vực có nhiều điều kiện phát triển loại hình du lịch tâm linh. Tuy nhiên, thời gian qua, nơi đây vẫn chưa thể phát huy thực sự các tiềm năng sẵn có để nâng cao chất lượng loại hình du lịch đặc thù này.

Du khách tham quan tháp Phổ Minh (Nam Định).
Du khách tham quan tháp Phổ Minh (Nam Định).

Tiềm năng dồi dào

Khi cuộc sống càng bận rộn với nhiều áp lực, nhu cầu thăm thú, du lịch ở các địa điểm tâm linh để tìm sự thư giãn và cân bằng cho tâm hồn ngày càng trở nên phổ biến. Theo thống kê của Tổng cục Du lịch, trong số 32,5 triệu khách du lịch nội địa năm 2012, có tới 41,5% số khách đến thăm viếng các điểm di tích tín ngưỡng. Đến nay, quan niệm chính xác về loại hình du lịch này vẫn chưa được thống nhất ở Việt Nam và thế giới, song theo Tổng cục trưởng Du lịch Nguyễn Văn Tuấn, có thể hiểu du lịch tâm linh là loại hình lấy yếu tố văn hóa tâm linh vừa làm cơ sở, vừa làm mục tiêu nhằm thỏa mãn nhu cầu đời sống tinh thần của con người.

Các tỉnh, thành phố thuộc đồng bằng sông Hồng có chung cái nôi của nền văn minh lúa nước, là nơi có truyền thống văn hóa, lịch sử hàng nghìn năm dựng nước, giữ nước. Nơi đây, cùng lúc tồn tại và phát triển nhiều loại hình tôn giáo, tín ngưỡng, bao gồm cả đạo Phật, đạo Thiên Chúa, tín ngưỡng thờ Thánh, thờ Mẫu, thờ Thành hoàng… Nhiều địa phương là vùng đất địa linh nhân kiệt, tập hợp dày đặc các di tích tín ngưỡng, hàng trăm lễ hội phong phú, đa dạng. Nam Định với khoảng 4.000 di tích văn hóa, chủ yếu là đền, đình, chùa, phủ, bên cạnh đó là 400 nhà thờ Thiên Chúa giáo, cùng hàng loạt lễ hội tâm linh nổi tiếng, như Phủ Dầy, đền Trần, đền Bảo Lộc, đền Gin, chùa Cổ Lễ, chùa Keo Hành Thiện, chùa Đại Bi…; Ninh Bình với 241 di tích được xếp hạng cấp tỉnh, 79 di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cùng 260 lễ hội lớn nhỏ, tiêu biểu như: lễ hội Trường Yên, chùa Bái Đính, đền Thái Vi…; Hà Nam với 160 di tích, cụm di tích được xếp hạng cấp quốc gia, cấp tỉnh, và các lễ hội lớn, như lễ hội Tịch Điền, lễ phát lương Đức Thánh Trần… Bên cạnh những giá trị văn hóa vật thể vô giá, đồng bằng sông Hồng còn là nơi phát tích của những giá trị văn hóa phi vật thể mang đậm dấu ấn dân tộc, như chèo, hát văn, ca trù…, trong đó một loại hình văn nghệ dân gian đặc sắc, gắn liền tín ngưỡng thờ Mẫu là nghệ thuật hát chầu văn, hầu bóng, hầu đồng-di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Đây chính là nguồn tài nguyên văn hóa dồi dào, cũng là tiềm lực mạnh để phát triển loại hình du lịch tâm linh theo nhiều hướng tại khu vực đồng bằng sông Hồng.

Không ít rào cản

Tiềm năng là thứ dễ nhận diện, song làm thế nào để khai thác, phát triển du lịch tâm linh, mang lại giá trị văn hóa và kinh tế cho khu vực đồng bằng sông Hồng vẫn là vấn đề trăn trở nhiều năm qua của chính quyền địa phương, cũng như doanh nghiệp lữ hành. Hạn chế lớn nhất của du lịch tâm linh nước ta là mới chỉ dừng lại ở việc hành hương, chiêm bái, tham quan các điểm đến gắn với yếu tố tâm linh, tín ngưỡng, mà chưa tạo được những trải nghiệm văn hóa thật sự, chưa mang lại sự thỏa mãn về mặt tinh thần cho du khách. Do đó, sản phẩm du lịch tâm linh của nước ta nói chung và đồng bằng sông Hồng nói riêng còn thiếu hấp dẫn, chưa có điểm nhấn riêng. Thấy na ná, giông giống nhau là cảm giác dễ xuất hiện khi du khách tham gia cả một tua du lịch tâm linh với điểm đến toàn đền, đình, chùa. Theo thống kê, lượng khách tới thăm các điểm di tích tâm linh ở từng địa phương hằng năm tương đối ổn định, song đa phần chỉ diễn ra vào thời điểm lễ hội mùa xuân, tức là do sức hút của mùa lễ hội, chứ không phải do kích cầu du lịch. Chính tính mùa vụ của hoạt động du lịch tâm linh thời gian qua dẫn đến tình trạng quá tải, “cầu” vượt “cung” kéo theo nhiều hệ lụy, như các nhu cầu của khách không được thỏa mãn đầy đủ, chất lượng dịch vụ du lịch không tương ứng, trong khi giá cả dịch vụ bị lợi dụng đẩy cao. Bên cạnh đó là những tác động xấu tới môi trường du lịch, vấn đề bảo đảm an toàn, an ninh cho du khách.

Lý giải một phần nguyên nhân dẫn đến tình trạng “ngủ đông” của loại hình du lịch này ở khu vực đồng bằng sông Hồng thời gian qua, ông Nguyễn Văn Chung, đại diện Công ty TST Travel cho biết: Công ty đã dẫn nhiều đoàn khách tới các điểm du lịch tâm linh, nhưng hầu như chỉ dám đưa khách tới Ninh Bình vì hệ thống khách sạn, nhà nghỉ nơi đây tương đối đầy đủ, còn lại, ở các tỉnh như Hà Nam, Nam Định, Hưng Yên, Thái Bình, cơ sở lưu trú rất hạn chế nên khó phục vụ được những đoàn khách lớn tham quan, chiêm bái. Theo ông Chung, một trong những hạn chế tại các điểm đến tâm linh là thiếu hệ thống chỉ dẫn thông tin và cách ứng xử văn hóa khi thực hành tín ngưỡng. Những di tích tâm linh cần đến những hướng dẫn viên có hiểu biết về cả văn hóa, tín ngưỡng, song những người có thể đáp ứng yêu cầu này rất ít, dẫn đến không phát huy được hết giá trị di tích. Bên cạnh đó, các loại hình du lịch tâm linh ở khu vực đồng bằng sông Hồng còn thiếu sự gắn kết, mạnh ai nấy làm, nên chưa tạo ra những tua, tuyến đặc sắc thu hút khách du lịch.

Liên kết để tạo bản sắc

Bàn về giải pháp khắc phục tính mùa vụ, thu hút du khách đến với các điểm du lịch tâm linh quanh năm, bà Đào Huyền Châu, Giám đốc Công ty cổ phần Du lịch và Thương mại Châu Long cho rằng: Bên cạnh việc đưa ra các gói dịch vụ ưu đãi cho du khách vào mùa thấp điểm, các địa phương cần phát triển thêm các sản phẩm phụ trợ, kết hợp nhiều hình thức du lịch. Chẳng hạn, tới thăm chùa Bái Đính, du khách có thể kết hợp đi đò tham quan khu du lịch sinh thái Tràng An, hoặc tới thăm đền Trần, tháp Phổ Minh, Phủ Dầy (Nam Định), du khách có thể kết hợp tìm hiểu, thưởng thức nghệ thuật hát bóng, hầu đồng. Thay vì cung cấp những tua du lịch tâm linh thông thường, chỉ dẫn khách tới tham quan chùa chiền, các hãng lữ hành có thể thiết kế các tua để du khách được ngủ trong chùa, quan sát cuộc sống các thiền sư, tham gia tập dưỡng sinh, nghe giảng về Phật pháp… Đây là hướng khai thác du lịch đã được một số nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc… áp dụng khá thành công.

Để tạo sự liên kết giữa các điểm du lịch tâm linh ở các địa phương, theo Trưởng phòng Nghiệp vụ Du lịch (Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nam Định) Nguyễn Công Khương, quan trọng nhất là phải lựa chọn được điểm nhấn ở các di tích, lễ hội văn hóa từng địa phương, tránh trùng lặp về hình thức, nội dung, tạo được sản phẩm du lịch mang tính đặc trưng riêng thì mới thành công. Trước mắt, các hãng lữ hành cần phối hợp các địa phương nghiên cứu khảo sát, xây dựng cơ sở thông tin dữ liệu để hình thành một số tuyến văn hóa tâm linh tiêu biểu như: tuyến du lịch tìm hiểu lịch sử nhà Trần gồm khu di tích nhà Trần ở Đông Triều (Quảng Ninh) - đền Trần Hưng Hà (Thái Bình) - đền Trần (Nam Định); hay tuyến du lịch tâm linh tìm hiểu về Đức Thánh Trần, gồm đền Kiếp Bạc, núi An Phụ (Hải Dương) - đền A Sào (Thái Bình) - Đền Bảo Lộc (Nam Định)… Việc hình thành những tua, tuyến tiêu biểu từ sự kết hợp các điểm di tích ở những địa phương có khoảng cách gần nhau không chỉ mang lại những trải nghiệm mang tính thống nhất cho du khách mà còn giúp các địa phương cùng giới thiệu, quảng bá tiềm năng du lịch, kéo dài thời gian lưu trú của khách. Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Du lịch Ngô Hoài Chung khẳng định: Phát triển du lịch tâm linh là phát triển một lĩnh vực tổng hợp, đòi hỏi sự tham gia góp sức của nhiều bên, bao gồm cả sự đầu tư của Nhà nước, chính quyền địa phương, các đơn vị lữ hành và người làm du lịch tại các điểm tâm linh. Để nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, các địa phương cần có chính sách khuyến khích các doanh nghiệp, các nhà đầu tư cùng tham gia phát triển du lịch tâm linh. Thắt chặt hơn nữa mối quan hệ giữa các doanh nghiệp, giữa các địa phương, và giữa địa phương với doanh nghiệp; nâng cao nhận thức, tính chuyên nghiệp của đội ngũ thuyết minh viên, hướng dẫn viên và những người tham gia vào quá trình cung cấp dịch vụ du lịch trên cơ sở gắn kết sự phát triển du lịch với lợi ích cộng đồng.

Có thể bạn quan tâm