Tiến sĩ Rosi Stenke, “người đỡ đầu” cho voọc đầu trắng

Tiến sĩ Rosi Stenke, “người đỡ đầu” cho voọc đầu trắng

Hành trình tìm voọc

"Tôi lớn lên ở Otlobeuren, một làng nhỏ yên tĩnh và thanh bình thuộc tỉnh Bavaria (Đức), cách TP Munich 100 km” - Rosi bắt đầu câu chuyện về mình - "Nơi đó có những rặng núi cao, không khí rất trong lành và dễ chịu giống như Cát Bà. Tôi thừa hưởng tình yêu đối với các loài thú từ người cha. Cha tôi là một nhà động vật học. Cuộc sống và công việc của tôi gắn liền với loài linh trưởng".

Rosi biết được những thông tin về voọc đầu trắng Cát Bà từ đồng nghiệp Tilo Nadler (hiện là Giám đốc Trung tâm cứu hộ linh trưởng Việt Nam). Bà vô cùng kinh ngạc khi nhìn thấy những bức ảnh về những con voọc có bộ lông mầu nâu đen, đầu và vai mầu vàng sáng trong tài liệu của Tilo bởi ở thời điểm đó, voọc Cát Bà được Tổ chức bảo tồn động vật thế giới liệt vào danh sách một trong hai loài linh trưởng có khả năng tuyệt chủng cao nhất thế giới. Ngay lập tức, bà "khăn gói" sang Việt Nam.

Cuộc sống của bà và hai cộng sự gần như tách biệt hẳn với sự ồn ào của khu du lịch Cát Bà. Sóng điện thoại và truyền hình không vượt qua được những mỏm núi đá cao ngút để đến khu rừng này. Không sách báo, không tivi... những người làm việc ở đây liên lạc với thế giới bên ngoài chỉ bằng một đường dây điện thoại và internet.

Văn phòng Dự án chỉ rộng chừng 20 m2 nằm trong khuôn viên Vườn Quốc gia Cát Bà, chẳng có gì ngoài tủ tài liệu và bốn bức tường chi chít hình ảnh voọc. Bà tâm sự: "Công việc đã khiến tôi vượt qua những cách biệt về ngôn ngữ, văn hóa và nhiều trở ngại khác. Tôi sống và làm việc như một người Việt Nam, thậm chí đi giày giống bộ đội Việt Nam để vào rừng"- Rosi đã lý giải một cách rất đơn giản như thế khi kể về công việc của mình ở Cát Bà.

Câu chuyện của chúng tôi càng hào hứng hơn khi Rosi kể về hành trình tìm voọc. Đó là một ngày mùa đông năm 2000, bốn giờ sáng, trong cái giá tê người, mỗi người một ba lô 30 kg gồm nước uống, thức ăn và những vật dụng đi đường. Đi được 15 phút thì trời đổ mưa tầm tã. Cả chuyên gia, phiên dịch và thợ săn cứ một tay vuốt nước mưa trên mặt, một tay cầm dao chặt những bụi lau và dây leo mở lối đi. Không biết đi qua bao nhiêu cây số đường rừng, nhưng lúc dừng lại, cả ba người đều lấm lem bùn đất, chân tay và mặt ứa đầy máu vì bị lau cứa.

"Chỗ này tôi đã từng gặp voọc”, cả nhóm dừng lại cắm trại và chờ đợi. Hàng tiếng đồng hồ ngồi bất động. Vẫn không thấy voọc đâu. Trời lại tiếp tục mưa to, cả ba run cầm cập vì rét. Họ phải đẽo những khúc củi ướt lấy phần lõi còn khô để nấu cơm. Chỉ có một cái nồi, cơm nấu phía dưới, rau, cá khô hấp lên trên. Năm ngày chờ đợi mỏi mòn, mệt mỏi, rét mướt tưởng như không chịu nổi, cả nhóm đang tính chuyện nhổ trại thì đột nhiên anh thợ săn vùng dậy...

Rosi kể lại: "Tôi lặng người đi vì xúc động, không tin vào mắt mình. Trước mắt tôi là bầy voọc đang chuyền trên những cành cây. Con voọc đầu đàn không nhìn thấy chúng tôi, nó kêu vang cả một góc rừng báo động cả cho đàn đến".

Sợ nhất là… không tìm thấy voọc

Sau chuyến đi ấy, những bản báo cáo của Rosi gửi đến Hội Động vật về bảo tồn loài và quần thể (ZGAP) về số lượng voọc ngày càng dày thêm. "Phải mất rất nhiều thời gian và công sức mới xác định chính xác số lượng voọc" - Rosi cho biết. Rất nhiều ngày, bà và cộng sự ngồi bất động hàng tiếng đồng hồ trong rừng sâu, hoặc đeo mình trên những mỏm núi đá dựng đứng cao vút với hy vọng gặp voọc để ghi lại đặc điểm, số lượng từng đàn. "Bà sợ nhất thứ gì trong rừng sâu?" - tôi hỏi. "Tôi đã từng là Huấn luyện viên Karate và có hàng chục năm kinh nghiệm đi rừng nên chẳng có gì đáng sợ cả, sợ nhất là không tìm thấy voọc thôi", Rosi hóm hỉnh trả lời.

Bây giờ Rosi có thể biết đích xác “địa chỉ” của bầy voọc ở đâu, trong thời gian nào. Bà cùng Vườn Quốc gia Cát Bà và chính quyền địa phương thành lập hai tổ bảo vệ ở hai xã Gia Luận và Việt Hải. Tổ bảo vệ này kết hợp với 21 gia đình nằm rải rác trong khu vực voọc sinh sống phát hiện và ngăn chặn những hoạt động săn bắn trái phép.

Nhiều người dân xã Gia Luận, Việt Hải... đến tận bây giờ vẫn không quên được hình ảnh Rosi đi bộ hàng chục km đường rừng để đến từng gia đình thuyết phục họ tham gia công việc bảo tồn. Những thợ săn lúc đó nhìn Rosi bằng ánh mắt không mấy thiện cảm khi bà ngỏ ý muốn họ cộng tác, đơn giản bởi họ chỉ quan tâm đến việc bắt được voọc nấu cao sẽ bán được mấy trăm nghìn! Phải mất một năm ròng rã tiếp cận và trò chuyện, họ mới đồng ý cộng tác cùng Dự án.

Những cố gắng không mệt mỏi của Rosi cuối cùng đã “kết quả". Số lượng voọc từ khi Dự án thành lập đến nay đã tăng từ 52 lên 62 con. Tháng 4-2004, quần đảo Cát Bà được công nhận là Khu dự trữ sinh quyển thế giới và voọc Cát Bà là một phần quan trọng trong đó.

Có thể bạn quan tâm