Nhà thơ Bàn Tài Ðoàn tên thật là Bàn Tài Tuyên, sinh ngày 28-9-1913 tại xóm Xí Kèng, xã Quang Thành, huyện Nguyên Bình, tỉnh Cao Bằng. Ông là một trong những nhà thơ người dân tộc thiểu số đầu tiên của nền thơ ca cách mạng Việt Nam. Ông vừa mới đi xa, tại quê hương mới, nơi ông vào sống cùng con trai: xã EaSô, huyện Ea Kax, tỉnh Ðác Lắc, hưởng thọ 94 tuổi.
Những ai thân quen hoặc biết rõ về ông đều không thể quên những câu chuyện đau buồn của cuộc đời ông trong cảnh nước mất nhà tan, dưới thời Pháp thuộc.
Sinh trưởng trong một gia đình người Dao rất nghèo, ngay từ nhỏ, Bàn Tài Ðoàn đã phải vật lộn kiếm sống mà vẫn không thoát khỏi cảnh cơ cực, lầm than. Cuộc đời ấy từng được ông thốt lên qua những câu thơ day dứt: Số phận tôi sao nhiều trắc trở/Lọt lòng mẹ ra là gian khổ.
Nhưng cái nghèo đeo đẳng không làm ông chùn bước, ngược lại, nó đã hun đúc ý chí của ông. Bàn Tài Ðoàn tự học chữ và thật may mắn, năm 1942, ông đã gặp gỡ và đi theo cách mạng ngay trên quê hương mình.
Bàn Tài Ðoàn vừa làm cách mạng vừa làm thơ, đã đảm đương nhiều cương vị công tác như: Phó Giám đốc Sở Văn hóa - Thông tin Khu tự trị Việt Bắc; Chủ tịch Hội Văn nghệ Việt Bắc; Ủy viên Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam; Ủy viên Ban Chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam.
Ông đã sáng tác các tập thơ: Muối Cụ Hồ (1960); Có mắt thấy đường đi (1962); Xuân về trên núi (1963); Một giấc mơ (1964), Kể chuyện đời (1968); Chùm sấy cấu (1969); Tháng Tám đổi mới (1971); Rừng xanh (1973); Sáng cả hai miền (1975); Gửi đồng bào Dao (1979); Bước đường tôi đi (1985); Tuyển tập thơ Bàn Tài Ðoàn (1993); Phạm tìu lậu (Ba con đường) (1994); các tập văn xuôi: Ðời người Dao (1948); Hồi ký khu Quang Trung (1994); Tập tiểu luận Vấn đề văn nghệ miền núi (1998).
Tâm sự về đời viết văn của mình, Bàn Tài Ðoàn viết: "Tôi sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân vùng cao, du canh du cư, cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, sách không được học một chữ.
Tôi may mắn được gặp Cách mạng và đi theo Cách mạng, được Ðảng quan tâm dìu dắt cho tôi làm thơ ca dân tộc để phục vụ dân tộc.
Tôi như người đang trong bóng tối, vừa mới ra ánh sáng còn đang bỡ ngỡ. Làm cách mạng đã khó, mà làm thơ ca lại càng khó hơn nữa. Chữ không biết, tiếng phổ thông không biết, có lúc tôi nghĩ không thể làm nổi, nhưng nghĩ đến nhiệm vụ cách mạng, Ðảng đã giao cho phải cố gắng mà làm và anh em bạn bè cũng động viên, nên tôi cũng cố mầy mò làm.
Lúc đầu, tôi viết chưa thành thơ, chỉ là một vài câu ngắn; nhưng, được sự động viên của Ðảng, của bạn bè, những vần thơ nôm na ấy vẫn được đăng báo (như bài Nam Bắc gặp nhau), lại được in sách và phát trên Ðài Tiếng nói Việt Nam.
Sau này, có đêm tôi nghe cô phát thanh viên ngâm bài: Muối Cụ Hồ, tôi cảm động đến phát khóc lên và chạnh nghĩ: Ngày xưa đói rách, không ra gì, ngày nay được giới thiệu trên Ðài. Từ đó, tôi càng phấn khởi, biết ơn Ðảng và cách mạng đã dìu dắt tôi nên người. Tôi càng cố gắng viết. Ðến nay, tôi đã có 15 tập sách được các nhà xuất bản in và phát hành. Ðó là thành quả một đời tập làm thơ của tôi".
Nhà thơ Bàn Tài Ðoàn đã đi vào cõi vĩnh hằng nhưng những tình cảm của ông với bạn bè đồng nghiệp và những đóng góp của ông với văn học các dân tộc thiểu số Việt Nam nói riêng, văn học hiện đại Việt Nam nói chung sẽ còn mãi.
Với những đóng góp của Bàn Tài Ðoàn với cách mạng, với thơ ca Việt Nam, ông đã vinh dự được Ðảng và Nhà nước tặng thưởng Huân chương Ðộc lập hạng nhì, được trao Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật đợt I, năm 2001. Lễ truy điệu ông được Hội Nhà văn Việt Nam tổ chức vào sáng thứ tư, ngày 28-11-2007 tại Hà Nội.