Thương mại Việt Nam - châu Phi

Những năm gần đây, các hoạt động xúc tiến hợp tác kinh tế, thương mại với các nước châu Phi cũng liên tục diễn ra. Và, ngày 25-4-2007, Cổng giao dịch điện tử www.vinafrica.com phục vụ công tác đối ngoại, xuất nhập khẩu hai chiều cũng được thành lập. 

Thương mại hai chiều - thuận lợi và khó khăn

Kim ngạch buôn bán Việt Nam - châu Phi tăng trưởng dần, từ 15,5 triệu USD năm 1991 lên 913 triệu USD năm 2005, trong đó Việt Nam xuất khẩu sang châu Phi đạt 651 triệu USD. Năm 2006, riêng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi đạt hơn 650 triệu USD, không tăng so với năm 2005 do sự sụt giảm kim ngạch của mặt hàng gạo, khoảng gần 80 triệu USD. Tuy nhiên, kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng khác lại có bước tăng trưởng đáng kể, hơn 160 triệu USD.

Cũng như các thị trường khu vực khác, việc mở rộng xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vào châu Phi cũng phải đón nhận cả thuận lợi và khó khăn. Thuận lợi là, Việt Nam có thế mạnh là tạo dựng được quan hệ chính trị - ngoại giao truyền thống hữu nghị, đoàn kết với các nước châu Phi. Ta đã ký một số hiệp định thỏa thuận, biên bản ghi nhớ về thương mại và đầu tư, về trao đổi đoàn cấp Nhà nước, về hợp tác chuyên gia... tạo nền tảng pháp lý cho hợp tác giữa hai bên.

Nước ta đã mở bảy sứ quán và năm cơ quan thương vụ tại châu Phi hiện đang tích cực hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu, xúc tiến thương mại, thâm nhập và mở rộng thị trường. Hàng hóa nước ta bước đầu đã có chỗ đứng tại thị trường lục địa này. Người tiêu dùng châu Phi đã bắt đầu có thói quen dùng hàng Việt Nam. Cơ cấu thị trường và mặt hàng buôn bán cũng ngày càng đa dạng.

Từ chỗ chỉ xuất một số mặt hàng nông sản, đến nay nước ta đã xuất thêm hàng dệt-may, giày dép, các sản phẩm điện, cơ khí, hàng tiêu dùng... Số đông người dân châu Phi không đòi hỏi chất lượng hàng hóa cao như các nước châu Âu. Các hàng rào kỹ thuật chưa có nhiều. Hơn thế nữa, châu lục này cũng lại là nơi cung cấp nguyên, nhiên liệu, khoáng sản, trong đó có nhiều loại mang tính chiến lược mà nước ta có thể khai thác phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Về khó khăn, theo Bộ Thương mại, hiện tại nước ta vẫn chưa hình thành được hệ thống văn bản pháp quy đầy đủ và chi tiết để tạo lập cơ sở cho các hoạt động thương mại với châu Phi. Hiểu biết của các doanh nghiệp Việt Nam về thị trường các nước châu Phi nói chung còn rất hạn chế. Ðặc biệt là những thông tin về hàng hóa như giá cả, mẫu mã, chủng loại; thị hiếu, sức mua, tập quán tiêu dùng, tình hình cạnh tranh, cách thức thanh toán...

Các doanh nghiệp chưa xây dựng được quan hệ trực tiếp với các nhà phân phối hàng hóa của các nước châu Phi trong khi ở các nước châu Phi, các nhà phân phối lại đóng vai trò quan trọng, chi phối tại thị trường nội địa. Ðó là các tập đoàn siêu thị, các nhà phân phối hàng hóa lớn. Tạo dựng mối quan hệ trực tiếp với họ sẽ góp phần làm giảm thiệt hại do buôn bán qua trung gian và khắc phục khó khăn về thanh toán vì các tập đoàn này có tiềm lực tài chính lớn.

Công bằng mà nói, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nước ta tại thị trường châu Phi cũng chưa cao, bao gồm khả năng cạnh tranh của sản phẩm, năng lực tài chính, năng lực quản lý. Cụ thể về hàng hóa, được thể hiện ở ba mặt: mẫu mã, chất lượng và giá cả. Về mẫu mã, các doanh nghiệp nước ta, mặc dù đã bắt đầu quan tâm thay đổi trong một hai năm nay song do hạn chế về tài chính, công nghệ nên khó có thể so sánh với doanh nghiệp của các nước tiên tiến khác trong cùng ngành hàng và lĩnh vực, vừa đi trước, vừa mạnh hơn hẳn về tài chính.

Ðối với các thị trường còn tương đối mới và xa lạ như châu Phi, việc thâm nhập và mở rộng quan hệ buôn bán đòi hỏi phải mất rất nhiều công sức và tiền của, thậm chí phải kiên trì đi theo một chiến lược lâu dài và ổn định. Vì vậy, nhiều doanh nghiệp Việt Nam thường lựa chọn giải pháp xuất khẩu vào châu Phi thông qua trung gian một công ty thứ ba của nước ngoài (chủ yếu là thương nhân của một nước châu Âu), dẫn đến giá thành sản phẩm tăng, giảm khả năng cạnh tranh của hàng Việt Nam ở châu Phi. Và, thiệt thòi hơn là doanh nghiệp nước ta chưa thiết lập được quan hệ bạn hàng trực tiếp với các đối tác ở châu lục này.

Về mặt khách quan, số đông các doanh nghiệp châu Phi đều có khả năng tài chính hạn hẹp, họ thường đòi hỏi thanh toán trả chậm, rủi ro cao. Hơn thế nữa là cước phí vận tải biển sang châu Phi luôn cao hơn so với các khu vực khác. Trong khi đó, khả năng tài chính hạn hẹp không cho phép các đối tác nơi đây mua những lô hàng lớn hoặc mua cả chuyến tàu, gây khó khăn không nhỏ cho doanh nghiệp nước ta khi thuê tàu và làm tăng giá thành sản phẩm.

Chẳng hạn, doanh nghiệp nước ta khi xuất khẩu gạo thường thuê tàu có khối lượng khoảng 15 - 25 nghìn tấn cho mỗi chuyến giao hàng, nhưng nhiều đối tác châu Phi đề nghị mua mỗi lần chỉ 2 - 3 nghìn tấn. Doanh nghiệp Việt Nam nhiều lúc phải đứng khá lâu ở ngã ba đường "tiến thoái lưỡng nan".

Một số giải pháp đẩy mạnh xuất khẩu

Sau khi trở thành thành viên đầy đủ của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), thuận lợi cơ bản nhất trong đẩy mạnh xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi là hàng hóa được hưởng thuế suất MFN. Có thể nói, cơ hội cho tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường châu Phi từ nay trở đi là tương đối lớn.

Tuy nhiên, nhiều thách thức mới gắn với các định chế, rào cản kỹ thuật cũng đặt ra, đòi hỏi chúng ta phải tìm cách vượt qua. Vì vậy, để sớm tiếp cận và mở rộng quan hệ thương mại với thị trường này, chúng ta cần có bước chuyển đổi đồng bộ từ cấp vĩ mô đến vi mô.

Trước hết về cấp vĩ mô, mà cụ thể là Chính phủ và các bộ, ngành xây dựng hoàn thiện hệ thống khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại thông qua việc tiếp tục triển khai ký kết các hiệp định: thương mại, tránh đánh thuế hai lần, khuyến khích và bảo hộ đầu tư, hợp tác trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng...

Bên cạnh đó, cần rà soát toàn bộ hệ thống hiệp định, thỏa thuận, văn bản đã ký kết với các nước châu Phi để có sự điều chỉnh cho phù hợp các cam kết gia nhập WTO của Việt Nam.

Hai là, sử dụng một tổ chức tài chính mạnh làm khâu đột phá cho các hoạt động thương mại và đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam tại châu Phi. Từ trước tới nay, do thị trường châu Phi gặp khó khăn khâu thanh toán, doanh nghiệp Việt Nam thường e ngại khi tiếp cận và thị phần trong tổng xuất khẩu của Việt Nam lại thấp, cho nên quan hệ giữa các ngân hàng Việt Nam với các nước châu Phi bị hạn chế.

Ðiều này, đến lượt nó, lại càng làm cho nỗ lực thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam sang châu Phi khó khăn hơn. Do vậy, cần có một bước đột phá trong khâu thanh toán, hỗ trợ doanh nghiệp trong hoạt động thương mại và đầu tư tại châu Phi. Ðiều này có thể thực hiện được thông qua sử dụng các tổ chức tài chính, ngân hàng làm cơ sở ban đầu để thúc đẩy các hoạt động hợp tác giữa hai bên.

Ba là, mở rộng mạng lưới thương vụ và hình thành mạng lưới trao đổi và hỗ trợ cung cấp thông tin giữa các Thương vụ. Hiện tại, ta mới có năm thương vụ tại Nam Phi, Ai Cập, Algeria, Ma-rốc, Nigeria trong tổng số 54 nước châu Phi là quá mỏng.

Do vậy, để có thể làm tốt công tác xúc tiến thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp, cần triển khai thành lập mới thương vụ tại các thị trường điểm như: Tanzania, Angola và Cốt Ði-voa. Bên cạnh công tác tìm kiếm thông tin bạn hàng cho các doanh nghiệp Việt Nam, các Thương vụ cũng phải trả lời các yêu cầu của doanh nghiệp sở tại về chính sách thương mại, ngành hàng, biểu thuế, đối tác xuất nhập khẩu... để doanh nghiệp đôi bên hiểu biết, tìm kiếm đối tác đầu tư mới.

Bốn là, tạo bước đột phá trong công tác nghiên cứu, thu thập và phổ biến thông tin thị trường. Thiếu thông tin là một trong những trở ngại khiến cho hoạt động thương mại giữa nước ta và các nước châu Phi gặp nhiều hạn chế. Ðể khắc phục tình trạng này, đối với thương vụ cần tư vấn cho doanh nghiệp cách thức thâm nhập các kênh phân phối hoặc cách thức để đưa hàng hóa nhập khẩu vào thị trường vì hệ thống chính sách thương mại của các nước này phức tạp khiến cho nạn tham nhũng, buôn lậu dễ hoành hành.

Ðối với Bộ Thương mại, Phòng Thương mại và Công nghiệp và các hiệp hội ngành hàng cần rà soát và đổi mới cách thức tổ chức các chương trình xúc tiến thương mại quốc gia và các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài nhằm tận dụng tốt nhất cơ hội để thu thập thông tin về cơ chế chính sách, tập quán buôn bán, nhu cầu mặt hàng.

Cần tranh thủ ứng dụng công nghệ thông tin trong việc thu thập cũng như phổ biến thông tin thị trường, chẳng hạn như trên trang thông tin điện tử của Bộ Thương mại, Phòng TMCN, Cục Xúc tiến Thương mại (XTTM), Trung tâm XTTM, Diễn đàn doanh nghiệp Việt Nam - châu Phi.

Theo đó là đổi mới cách thức tổ chức các chương trình XTTM quốc gia và các đoàn khảo sát thị trường nước ngoài, vì hiện nay các đơn vị tổ chức thường chỉ tập trung vào các hoạt động tổ chức đoàn, còn khâu thu thập thông tin về cơ chế chính sách, tập quán buôn bán, nhu cầu mặt hàng... chưa được quan tâm đúng mức.

Ðể có thể lập được hệ thống cơ sở dữ liệu về châu Phi, do thị trường quá rộng, cho nên cần tiến hành nghiên cứu và thu thập từng bước. Trước mắt tập trung vào một số mặt hàng có giá trị gia tăng cao như thủ công mỹ nghệ, đồ điện, điện tử, đồ gia dụng, hàng tiêu dùng, thực phẩm chế biến, đồ hộp, sản phẩm cơ khí nông nghiệp (máy xay xát, phát điện), sản phẩm nhựa, xe máy, xe đạp và phụ tùng, săm lốp ô-tô, xe máy, đồ chơi trẻ em, dược phẩm, thuốc chống sốt rét, màn chống muỗi...

Bên cạnh tìm kiếm mặt hàng mới, thị trường mới, cần có biện pháp hữu hiệu trong việc thu thập thông tin để đối phó với các trường hợp bị kiện bán phá giá, bảo vệ lợi ích doanh nghiệp, bảo vệ thị phần xuất khẩu của ta.

Còn ở cấp độ doanh nghiệp, với vai trò là người trực tiếp tham gia quá trình sản xuất và xuất khẩu hàng hóa, doanh nghiệp cần quan tâm hơn vào công tác nghiên cứu thông tin thị trường, xác định rõ mặt hàng trọng điểm, thị trường trọng điểm, từng bước xây dựng bàn đạp để mở rộng hoạt động xuất khẩu vào khu vực thị trường này, chẳng hạn: Algeria là gạo, cà-phê và hạt tiêu; Angola và Kenya là gạo và sản phẩm dệt-may; Cộng hòa Trung Phi, Congo, Cốt Ði-voa, Mozambique và Cameroon là gạo; Ai  Cập là máy vi tính và linh kiện, hạt tiêu, rau quả và sợi; Liberia là máy móc thiết bị phụ tùng; Nigeria là phụ tùng ô-tô, xe máy, sắt thép, dệt - may và tân dược; Nam Phi là gạo, giày dép, cà-phê, máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện, sản phẩm gỗ...

Bước tiếp theo là trực tiếp gặp gỡ đối tác kinh doanh thông qua các hình thức khảo sát thị trường, tham dự hội chợ, hội thảo, thường xuyên giữ mối liên hệ hai chiều với các cơ quan thương vụ, từ đó lựa chọn chiến lược kinh doanh phù hợp.

Qua thực tiễn, chiến lược kinh doanh của các doanh nghiệp Việt Nam tại thị trường châu Phi xoay quanh ba hình thức chính như sau: a) Xuất khẩu qua trung gian: Hình thức này thích hợp với thời kỳ khai phá thị trường khi quy mô xuất khẩu của các doanh nghiệp còn nhỏ và các mặt hàng xuất khẩu còn phân tán, tuy nhiên, dễ tạo ra thế bị động đối với các nhà xuất khẩu do khó nắm bắt kịp thời những thông tin về thị trường;

b) Xuất khẩu trực tiếp: Ðây cũng là một hình thức mà doanh nghiệp Việt Nam sử dụng tại các quốc gia mà ta đã có thương vụ hoặc cơ quan đại diện ngoại giao như Nam Phi, Ai Cập, Angola và một số nước có hệ thống ngân hàng tương đối phát triển và khả năng tài chính tương đối mạnh như Ma-rốc, Nigeria...

Ðể có thể xuất khẩu trực tiếp sang các nước châu Phi, nhất là những nước nghèo, các doanh nghiệp cần phải nỗ lực và đầu tư ban đầu rất lớn trên cả hai phương diện vật lực, nhân lực. Và khi đã có những giao dịch trực tiếp với một đối tác, doanh nghiệp cũng cần có biện pháp duy trì mối quan hệ đó mang tính ổn định, tạo ra sự tin cậy lẫn nhau;

c) Ðầu tư: Ðây là một hình thức kinh doanh mà các doanh nghiệp nước ta cần áp dụng để thâm nhập thị trường này, bởi sẽ được hưởng nhiều ưu đãi thương mại mà Mỹ và EU dành cho các nước châu Phi. Một số lĩnh vực mà tiềm lực các doanh nghiệp Việt Nam có thể đầu tư vào được, tính khả thi cao là thủy sản, công nghiệp nhựa, chế biến gỗ, chế biến nông sản, đặc biệt là dược phẩm - cái mà hằng năm các nước ở châu Phi hầu như đang phải nhập khẩu 100% để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của cộng đồng.

Có thể bạn quan tâm