Trả lời: Trong việc chuyển quyền sử dụng đất nông nghiệp thì về nguyên tắc bên chuyển nhượng (cha mẹ của bạn) phải nộp 2% thuế chuyển quyền sử dụng đất và bên nhận quyền sử dụng đất (bên mua) phải nộp 1% lệ phí trước bạ theo giá do Nhà nước quy định của hạng đất nông nghiệp. Cụ thể, việc tính thuế được áp dụng theo quyết định của UBND tỉnh. Như trên đã nói về nguyên tắc là như vậy, nhưng thực tế thì giữa bên bán và bên mua có thể thỏa thuận về người nộp thuế.
Cha mẹ cho con cái đất ruộng thì không phải đóng thuế chuyển quyền sử dụng đất nhưng để bảo đảm tính hợp pháp trong việc sử dụng đất này thì bạn và cha mẹ mình phải làm đầy đủ các thủ tục về chuyển nhượng. Trường hợp cha mẹ có đất vườn, đất thổ cư mà cắt ra cho con cái thì điều kiện đầu tiên là đất đó đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, hoặc cha mẹ bạn đã có quyền sử dụng đất hợp lệ theo Luật Đất đai. Nếu đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng loại đất đó hoặc đã có các giấy tờ khác phù hợp theo quy định của Luật Đất đai thì khi chuyển nhượng cho con không phải nộp thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ.
Căn cứ để tính thuế chuyển quyền sử dụng đất và lệ phí trước bạ là những văn bản như Thông tư số 28, ngày 18-4 -2000 của Bộ Tài chính quy định thực hiện Nghị định 176 của Chính phủ về lệ phí trước bạ; Thông tư số 104, ngày 23-10-2000 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định 19, ngày 8-6-2000 của Chính phủ về thuế chuyển quyền sử dụng đất.
(Báo Nông thôn ngày nay)
-----------------------
Quy định về trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thôi việc
Hỏi: Đề nghị cho biết những trường hợp nào được coi là thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động. Những thay đổi trên dẫn đến người lao động bị mất việc làm hoặc thôi việc thì mức trợ cấp mất việc làm, trợ cấp thôi việc được quy định như thế nào và cụ thể ra sao?
Trả lời: Theo quy định tại Nghị định số 39/2003/NĐ-CP ngày 18-4-2003 của Chính phủ, thì những trường hợp sau được coi là thay đổi cơ cấu hoặc công nghệ theo quy định tại Khoản 1 Điều 17 của Bộ luật Lao động: Thay đổi một phần hoặc toàn bộ máy móc, thiết bị, quy trình công nghệ tiên tiến có năng suất lao động cao hơn; thay đổi sản phẩm hoặc cơ cấu sản phẩm dẫn đến sử dụng lao động ít hơn; thay đổi cơ cấu tổ chức: sáp nhập, giải thể một số bộ phận của đơn vị.
Những thay đổi trên dẫn đến người lao động bị mất việc làm, thì người sử dụng lao động có trách nhiệm đào tạo lại nghề cho người lao động để sử dụng vào công việc mới. Nếu không giải quyết được việc làm mới mà phải cho người lao động thôi việc thì người sử dụng lao động phải trả trợ cấp mất việc làm.
Mức trợ cấp mất việc làm: trợ cấp mất việc làm được tính trên cơ sở mức lương quy định tại Nghị định số 114/2002/NĐ-CP ngày 31-12-2002 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Lao động về tiền lương. Thời gian để tính trợ cấp mất việc làm là tổng thời gian làm việc thực tế cho người sử dụng lao động đó đến khi bị mất việc làm. Trường hợp người lao động trước đó có thời gian làm việc ở khu vực Nhà nước mà chưa được nhận trợ cấp thôi việc hoặc trợ cấp mất việc làm, thì thời gian đó chỉ được tính để nhận trợ cấp thôi việc theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Lao động. Khoản trợ cấp thôi việc này do Quỹ dự phòng về trợ cấp mất việc làm của đơn vị mà người lao động bị mất việc làm trả cùng trợ cấp mất việc làm. Riêng đối với người lao động trong các doanh nghiệp thực hiện phương án sắp xếp lại và chuyển đổi theo các hình thức, giao, bán, khoán, kinh doanh, cho thuê doanh nghiệp và cổ phần hóa, thì áp dụng theo các chế độ quy định về lao động của Nhà nước đối với các trường hợp này.
Thời gian làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm là từ đủ một năm (12 tháng) trở lên, nếu có tháng lẻ được quy định như sau: Dưới một tháng không được tính để hưởng trợ cấp mất việc làm; Từ một đến dưới 6 tháng được tính bằng 6 tháng làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng 1/2 tháng lương; từ đủ 6 tháng trên được tính bằng một năm làm việc để hưởng trợ cấp mất việc làm bằng một tháng lương. Trợ cấp mất việc làm và trợ cấp thôi việc được trả trực tiếp một lần cho người lao động tại nơi làm việc hoặc tại nơi thuận lợi nhất cho người lao động và chậm nhất không quá 7 ngày, kể từ ngày người lao động bị mất việc làm.
(Báo Pháp luật)