Cần sửa đổi để đáp ứng yêu cầu thực tiễn
Tại Hội nghị lấy ý kiến góp ý đối với Hồ sơ dự án Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi), sáng 9/6, Thứ trưởng Tư pháp Nguyễn Thanh Ngọc cho biết, qua quá trình tổng kết, đánh giá thực tiễn thi hành Luật Nuôi con nuôi thời gian qua, việc đề xuất sửa đổi Luật là cần thiết và cơ bản đã bám sát những khó khăn, vướng mắc phát sinh trong thực tiễn.
Theo Thứ trưởng, đa số ý kiến đều đồng tình với định hướng tiếp tục đẩy mạnh phân cấp, phân quyền, đơn giản hóa thủ tục hành chính và tạo điều kiện thuận lợi hơn trong quá trình giải quyết các thủ tục nuôi con nuôi. Tuy nhiên, việc sửa đổi Luật cần đi sâu nhận diện đầy đủ các bất cập, hạn chế còn tồn tại để các giải pháp đưa ra thực sự khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Một trong những vấn đề được đặt ra là vai trò của các tổ chức tham gia hỗ trợ hoạt động nuôi con nuôi. Hiện nay, trên thực tế tồn tại nhiều loại hình tổ chức với phương thức hoạt động khác nhau, song cơ chế pháp lý điều chỉnh vẫn chưa thật sự rõ ràng.
Theo Thứ trưởng, có những tổ chức hoạt động hiệu quả trong việc kết nối thông tin, hỗ trợ các bên liên quan và thúc đẩy quá trình giải quyết hồ sơ. Tuy nhiên, cũng có trường hợp phát sinh những bất cập, đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng để xây dựng cơ chế quản lý phù hợp, vừa phát huy được vai trò hỗ trợ của các tổ chức này, vừa bảo đảm tính minh bạch, trách nhiệm và tuân thủ pháp luật.
Đối với điều kiện nhận nuôi con nuôi, mặc dù có nhiều ý kiến đề nghị tiếp tục đơn giản hóa thủ tục và nới lỏng một số điều kiện, song Thứ trưởng nhấn mạnh mục tiêu cốt lõi của chính sách nuôi con nuôi là bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em. Vì vậy, các điều kiện liên quan sức khỏe, kinh tế, năng lực pháp lý và các tiêu chí cần thiết khác vẫn cần được duy trì ở mức phù hợp.
Bên cạnh các tiêu chí mang tính định lượng, cần nghiên cứu các giải pháp để đánh giá động cơ, mục đích nhận nuôi và khả năng chăm sóc trẻ của người nhận nuôi, dù đây là những yếu tố khó lượng hóa trong thực tế.
Quy định rõ điều kiện của người nhận con nuôi, bảo đảm tính minh bạch
Tại hội nghị, nhiều đại biểu đánh giá dự thảo Luật Nuôi con nuôi (sửa đổi) đã có nhiều điểm mới tích cực.
Theo bà Phạm Thị Hải Hà, Phó Cục trưởng Bảo trợ Xã hội, Bộ Y tế, dự thảo Luật đã thể hiện rõ quan điểm lấy trẻ em làm trung tâm, tăng cường trách nhiệm bảo vệ trẻ em và từng bước tiếp cận theo hướng đề cao vai trò của công tác xã hội trong lĩnh vực nuôi con nuôi.
Bà cho rằng tư duy xây dựng Luật lần này đã có sự thay đổi tích cực khi chú trọng nhiều hơn đến các yếu tố tâm lý, xã hội và quyền lợi tốt nhất của trẻ em thay vì chỉ tập trung vào các thủ tục hành chính.
Góp ý về sự tham gia của đội ngũ làm công tác xã hội, bà Phạm Thị Hải Hà đề nghị quy định rõ hơn và mang tính bắt buộc đối với vai trò của lực lượng này trong toàn bộ quy trình nuôi con nuôi.
Bên cạnh đó, bà cũng đề xuất nghiên cứu quy định cho phép Ủy ban nhân dân cấp xã và cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài được sử dụng đội ngũ công tác xã hội hoặc các cơ sở cung cấp dịch vụ công tác xã hội tại địa phương để thực hiện việc kiểm tra, theo dõi, hỗ trợ tâm lý và đánh giá tình hình phát triển của trẻ em được nhận làm con nuôi.
Liên quan điều kiện của người nhận con nuôi, bà Nguyễn Phương Lan, Trường đại học Luật Hà Nội cho rằng, một số quy định trong dự thảo Luật vẫn cần tiếp tục được làm rõ nhằm bảo đảm tính minh bạch và thuận lợi trong quá trình áp dụng.
Theo bà Lan, dự thảo Luật quy định người nhận con nuôi phải đáp ứng các điều kiện theo pháp luật Việt Nam; đối với người nước ngoài hoặc người Việt Nam định cư ở nước ngoài còn phải đáp ứng các điều kiện theo pháp luật nơi thường trú. Tuy nhiên, quy định về trường hợp đặc biệt khi người nhận nuôi có thể hơn người được nhận làm con nuôi hơn 50 tuổi chưa xác định giới hạn tối đa, do đó cần nghiên cứu bổ sung để bảo đảm thống nhất trong thực hiện.
Ngoài ra, bà Lan cũng đề nghị xem xét bổ sung quy định về khoảng cách tuổi tối thiểu trong các trường hợp nhận con nuôi giữa những người có quan hệ thân thích trong gia đình. Theo đề xuất, khoảng cách tuổi có thể từ 10 đến 15 năm nhằm bảo đảm sự chênh lệch thế hệ và phù hợp với bản chất của mối quan hệ cha mẹ-con.