Việt Nam đã ký Tuyên ngôn quốc tế về SXSH vào năm 1999 và đến năm 2002, Bộ Khoa học-Công nghệ và Môi trường đã ban hành Kế hoạch hành động quốc gia về sản xuất sạch hơn. Mục đích cơ bản của Kế hoạch hành động quốc gia về SXSH, giai đoạn I là thực hiện thành công chương trình SXSH trong các cơ sở công nghiệp, sao cho SXSH thật sự trở thành một công cụ quản lý hiệu quả về mặt kinh tế, tạo ra các lợi ích xã hội và môi trường cho các doanh nghiệp công nghiệp trong nước trước những thách thức hội nhập nền kinh tế toàn cầu.
Sau bốn năm, kể từ khi Kế hoạch quốc gia được ban hành, SXSH đã dần nhận được sự quan tâm của các bộ, ngành, địa phương, các đơn vị nghiên cứu, tư vấn và các doanh nghiệp. Từ những kết quả đáng ghi nhận trong việc triển khai áp dụng SXSH tại các doanh nghiệp có thể khẳng định, SXSH đang ngày càng được triển khai một cách có hiệu quả và góp phần đáng kể trong giảm thiểu ô nhiễm môi trường đồng thời mang lại những lợi ích về mặt kinh tế cho các đơn vị áp dụng. Kể từ năm 1999 đến nay, qua sáu năm với nhiều nỗ lực đưa SXSH tiếp cận tới các đối tượng, số lượng các doanh nghiệp thực hiện sản xuất sạch hơn đã ngày một tăng thêm.
Nếu như năm 1999 mới chỉ có tám doanh nghiệp áp dụng SXSH thì trong năm 2005 có 46 doanh nghiệp áp dụng. Tính đến nay đã có gần 200 doanh nghiệp tại 37 tỉnh, thành phố triển khai áp dụng SXSH, gần gấp đôi so với thời điểm cách đây hai năm, khi Hội nghị bàn tròn quốc gia về sản xuất sạch hơn lần thứ hai được tổ chức năm 2004. Nam Ðịnh đã trở thành địa phương dẫn đầu trong cả nước về số lượng các doanh nghiệp thực hiện SXSH với doanh nghiệp.
Thực tế triển khai áp dụng SXSH tại các doanh nghiệp từ nhiều năm nay đều cho thấy hiệu quả từ việc áp dụng các giải pháp SXSH là rõ ràng, nguyên liệu và nhiên liệu sử dụng trong các ngành sản xuất đều được giảm đáng kể, nhiều doanh nghiệp thuộc các ngành dệt nhuộm, giấy khi áp dụng sản xuất sạch hơn đã giảm được lượng tiêu thụ nhiên liệu tới hơn 50%, tiêu thụ điện cũng giảm hơn 30% và hóa chất có những cơ sở giảm tới 60%. Lợi ích rõ rệt về mặt kinh tế là một động lực hấp dẫn các doanh nghiệp trong việc chủ động áp dụng sản xuất sạch hơn đối với hoạt động sản xuất của doanh nghiệp mình.
Trong thời gian qua, việc thực hiện SXSH trong giai đoạn đầu cũng mới chỉ tập trung quan tâm đến hoạt động sản xuất trong các ngành công nghiệp. Tuy nhiên, kết quả đạt được từ các hoạt động này là rất khả quan, tiêu thụ điện giảm 10-20%, tiêu thụ nước giảm khoảng 21%, quản lý rác thải đúng quy định, tránh được nguy cơ rò rỉ hóa chất.
Tuy nhiên, vẫn phải nhìn nhận rằng, so với tổng số doanh nghiệp sản xuất, dịch vụ trong cả nước thì con số 200 doanh nghiệp áp dụng SXSH vẫn còn quá khiêm tốn. Ðiều này cho thấy, tuy đã có nhiều nỗ lực từ phía các bộ, ngành, các đơn vị hỗ trợ kỹ thuật, các địa phương và các doanh nghiệp trong việc đưa SXSH vào áp dụng trong thực tế nhưng SXSH vẫn chưa có được sự quan tâm đúng mức. Tiềm năng thực hiện SXSH ở nước ta còn rất lớn và SXSH có thể thực hiện thành công ở nước ta.
Ðể đưa SXSH trở thành một nhiệm vụ không thể thiếu đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, cần có các giải pháp thực tế hơn, tích cực hơn và mang lại hiệu quả hơn. Ðặc biệt đã đến lúc cần mở rộng sự quan tâm đến các ngành dịch vụ. Các chính sách cũng cần phải được cụ thể hơn với các quy định rõ ràng về mặt tổ chức thực hiện, có như vậy SXSH mới thật sự trở thành một hoạt động quan trọng trong sản xuất, kinh doanh cũng như bảo vệ môi trường ở nước ta.
Những giải pháp chính nhằm phát triển SXSH trong thời gian tới là: Xây dựng các chính sách, quy định cụ thể khuyến khích áp dụng SXSH, gồm: Quy định về khuyến khích áp dụng SXSH trong ngành công nghiệp; Rà soát, sửa đổi, bổ sung kế hoạch hành động quốc gia và trình Thủ tướng Chính phủ ban hành; Xây dựng và ban hành các quy định cụ thể về mặt hỗ trợ, ưu đãi tài chính cho các doanh nghiệp áp dụng SXSH; Nghiên cứu, đề xuất các quy định về lồng ghép yêu cầu áp dụng SXSH đối với các dự án đầu tư mới, cải tạo hoặc mở rộng sản xuất.
Tăng cường hoạt động phổ biến, nâng cao nhận thức về SXSH. Thiết lập mạng lưới thông tin quốc gia cập nhật thông tin quốc tế về SXSH; Duy trì tổ chức Hội nghị bàn tròn quốc gia SXSH thường kỳ hai năm/lần. Ðẩy mạnh đào tạo nhân lực, thiết lập mạng lưới tư vấn SXSH; Tăng cường hoạt động kiểm tra, giám sát thi hành pháp luật về bảo vệ môi trường; Ðưa vào áp dụng nhãn sinh thái/nhãn sản phẩm thân thiện môi trường. Nghiên cứu đưa SXSH thành tiêu chí cho xét thưởng các giải thưởng liên quan bảo vệ môi trường. Tăng cường hợp tác quốc tế nhằm chia sẻ kinh nghiệm trong việc thực hiện SXSH.