Tôi nói là nhạy cảm vì không thể làm phê bình văn học thật sự nếu cái ăng ten thẩm mỹ của người viết "có vấn đề". Vùng thẩm mỹ chủ yếu mà Lưu Khánh Thơ quan tâm là đời sống thơ ca được nhìn từ hai phía: sáng tạo và tiếp nhận. Dĩ nhiên, không phải tất cả mọi thứ mà tác giả viết ra trong tập sách này đều đã được chuốt lọc kỹ càng. Vẫn còn đây đó những trang viết đòi hỏi người viết có chủ kiến khoa học đậm hơn. Nhưng có thể nói, Lưu Khánh Thơ là người sớm ý thức được hướng nghiên cứu.
Trong lãnh địa phê bình, hướng nghiên cứu rất quan trọng. Nếu không sớm xác định được hướng đi và kiên tâm với nó, nhà phê bình rất dễ rơi vào thời vụ, chạy theo đối tượng mà không làm chủ được đối tượng. Với việc chọn thơ tình Xuân Diệu làm đối tượng nghiên cứu văn học dài hơi, Lưu Khánh Thơ đã chọn được một đối tượng thích hợp với tạng của mình. Ðó là cái tạng nghiêng về cảm xúc, từ tình mà phát hiện ra lý. Vì biết nuôi dưỡng cảm xúc và tình yêu đối với thơ ca nên không ít trang viết của chị có sự tri âm giữa người sáng tạo và nhà phê bình.
Chính từ sự cộng hưởng ấy mà chị đã viết về Xuân Diệu, Trần Huyền Trân, Hữu Thỉnh, Xuân Quỳnh... khá sâu sắc và tinh tế. Chẳng hạn, về Xuân Diệu, tác giả tỏ ra có lý khi nhận xét: "Tình yêu trong thơ Xuân Diệu gần như không bị trói buộc bởi một thứ quan niệm, một thứ luật lệ, một định kiến nào. Nó chỉ tuân theo một quy luật: quy luật giải phóng cá nhân" (tr 178).
Về Hữu Thỉnh, Lưu Khánh Thơ đã nêu được nét riêng trong phong cách nghệ thuật của nhà thơ này: "Dù viết về nhiều chủ đề khác nhau nhưng phẩm chất thơ Hữu Thỉnh là đằm thắm, hồn hậu, nghiêng về phía rợp mát. Cái chìm lắng yêu thương lấn át cái ồn ào, sôi sục" (trang 256)...
Tôi nghĩ, rợp mát cũng là phẩm chất văn phê bình của Lưu Khánh Thơ. Nó tạo nên tính nữ trong giọng điệu phê bình của chị, giúp chị nhận ra diện mạo của cái tôi trữ tình trong thơ qua những luồng điện cảm xúc sau tấm thảm ngôn từ. Thật ra, việc tìm hiểu một phong cách nghệ thuật nào đó, theo tôi, không chỉ dừng lại ở chỗ nhận diện đặc điểm riêng của họ qua lớp văn bản ngôn từ mà sâu hơn, cần phải lý giải bằng được cơ chế nào đã chi phối cái khuôn diện bề nổi ấy. Nếu hiểu như thế, sự tinh tế trong cảm nhận của nhà phê bình mới chỉ là bước khởi đầu. Nhưng không có cái khởi đầu ấy, chắc chắn sẽ không có gì tiếp theo.
Trong các bài viết của Lưu Khánh Thơ, mặc dù cái bước thứ hai ấy có lúc còn chưa thật đầy nhưng sự nhạy cảm là một phẩm chất nổi bật của chị. Có lẽ, ở đây, Lưu Khánh Thơ được thừa hưởng một chút gien nhà: cha là nhà thơ, nhà viết kịch Lưu Quang Thuận; anh trai là Lưu Quang Vũ. Rồi gia đình giàu truyền thống văn chương ấy lại "nhập" thêm một nữ sĩ tài danh khác là Xuân Quỳnh. Tôi nhận thấy cả phần viết về thơ và phần viết về đời Xuân Quỳnh của Lưu Khánh Thơ rất có hồn. Rất có thể, nó xuất phát từ sự đồng cảm của những người đàn bà làm văn chương với nhau và sự xúc động về người chị mà Lưu Khánh Thơ đã giải mã được phần nào những điều "không thể nói" ẩn sau những câu thơ vừa hồn nhiên vừa say đắm của Xuân Quỳnh.
Từ những tác giả, tác phẩm cụ thể, đi qua những mùa thơ cụ thể (Thơ năm 1992, Diện mạo thơ 1998...), Lưu Khánh Thơ đang từng bước nỗ lực bao quát một diện nghiên cứu rộng hơn (Thơ văn cách mạng trước 1945 qua những người mở đường, Vấn đề cũ - mới trong thơ Việt Nam trước 1945 nhìn từ phong trào Thơ mới, Thơ trong bước ngoặt lịch sử tháng Tám - 1945...)
Nghĩa là, nếu phần thứ hai (Phê bình) của quyển sách này tập trung khảo sát những gương mặt thơ mà chị tâm đắc thì Phần thứ nhất (Tiểu luận) có ý vươn về phía khái quát, đặt ra những vấn đề nghiên cứu cho chính bản thân người viết. Tôi cho rằng, đây là hướng đi phù hợp với một cây bút như Lưu Khánh Thơ.
Trong phần thứ ba của quyển sách, Lưu Khánh Thơ nhớ về người thân bằng những trang viết cảm động. Người đọc tinh ý vẫn có thể nhận thấy khi viết về người thân, cái thói quen nghiên cứu đã khiến cho các bài viết của Lưu Khánh Thơ tiềm ẩn những nhận xét tinh tế của một cây bút phê bình. Nhưng điều quan trọng nhất là ở chỗ, Lưu Khánh Thơ đã giúp người đọc hiểu hơn tình yêu và niềm đam mê nghệ thuật đã trở thành một truyền thống quý báu của gia đình. Tại đây, người đọc có thể nhận thấy rất rõ, nếu chỉ có tài năng thiên phú mà thiếu đi sự tận hiến cho nghệ thuật, nghệ sĩ thật khó lòng vươn tới những đỉnh cao.
Trong tình hình đội ngũ phê bình thưa mỏng hiện nay, Lưu Khánh Thơ là người khá xông xáo và chịu khó. Chị xuất hiện khá nhiều trên các tờ báo và tạp chí khác nhau. Là người đọc Lưu Khánh Thơ khá kỹ, tôi nghĩ lẽ ra chị có thể đã là tác giả của nhiều công trình khoa học dài hơi khác. Ngay cả cái luận án về Xuân Diệu đã xong xuôi cả chục năm rồi vẫn chưa thấy chị cho xuất bản. Có lẽ chị muốn những suy nghĩ của mình chín hơn trước khi gửi đến tay người đọc chăng? Nhưng biết đâu, nó lại xuất phát từ hoàn cảnh.
Ở xứ ta, với cánh mày râu, viết văn đã là cái ách quá nặng, với nữ giới, xem ra cái ách ấy còn nặng hơn nhiều. Ðể viết, để thức với từng con chữ, họ phải vượt lên tất cả bằng toàn bộ nỗi đam mê của mình. Mà với Lưu Khánh Thơ, tôi biết, chị là người có thừa nỗi đam mê...
Mang trong mình niềm đam mê văn chương từ nhỏ, lại khá nhạy cảm và tinh tế, sau khi tốt nghiệp Khoa Ngữ - Văn ÐH Tổng hợp, được nhận về công tác tại Viện Văn học, chuyên nghiên cứu văn học Việt Nam hiện đại, có thể coi là một may mắn đối với nhà nghiên cứu văn học Lưu Khánh Thơ.
Song may mắn nào mà chẳng có thử thách. Viết về văn học đương đại tưởng dễ nhưng lại không hề đơn giản. Bởi lẽ, nếu không tinh, người viết rất dễ nhầm. Cái đáng viết thì bỏ qua. Cái thường thường bậc trung lại ngỡ là mới. Ðó là chưa nói đến chuyện, từ cái đời sống văn chương bề bộn ấy, người làm lý luận - phê bình sẽ khái quát, đề xuất được vấn đề gì mới nhằm góp phần thúc đẩy sự phát triển của văn học nước nhà.