Thơ ở trại sáng tác miền trung

Trước hết xin nói đến bốn tác giả đang sửa chữa, hoàn thành bản thảo tập thơ như: Ơi bến đò Tư Phú của Nguyễn Ðức Dũng, Hạt hy vọng của Nguyễn Thị Anh Ðào, Gió cuối mặt sông của Võ Văn Hoa, và Có một ngày của Nguyễn Trọng Bính.

Tập thơ Ơi bến đò Tư Phú của Nguyễn Ðức Dũng gồm 64 bài. Thơ Nguyễn Ðức Dũng có nhiều câu nhắc tới quê nghèo và cảnh ngộ của riêng mình:

Ðêm nhận được tin cha nhắm mắt

Ðất trời nghiêng đổ hết trong con

Chân thấp, chân cao mong về thấy mặt

Gặp trơ nắm đất không tròn...

Và cái tuổi thơ vừa cơ cực vừa nghèo khó vừa thương cảm: Trưa dang nắng, tối nằm khét nắng/Trời hanh hao tóc trẻ lẫn rơm vàng... Hình ảnh tóc trẻ lẫn rơm vàng vừa đẹp vừa gây ấn tượng. Ở bài thơ Gửi người xa xứ, Nguyễn Ðức Dũng nói được tâm trạng của bao người con xa quê. Câu thơ tưởng như câu tự vấn thường ngày mà vẫn chan chứa tâm tình:

Những đứa con ly hương

Xuống biển

Lên rừng

Ði kiếm công danh phương này phương nọ

Có bao đêm nằm tự mình hỏi nhỏ

Còn bao nhiêu hơi Quảng ủ trong lòng

Ngoài thơ tự do, Nguyễn Ðức Dũng còn có những câu thơ lục bát hay. Tác giả nhắc tới người mẹ bằng những lời như chắt từ tâm khảm:

Không vun được nắm đất dày

Chân hương nghiêng ngả cắm dày đời con

Tập thơ Có một ngày của Nguyễn Trọng Bính gồm một phần trích trường ca Sài Gòn, ngày 30 tháng 4 năm 1975 và 22 bài thơ khác. Ở phần trích trường ca, Nguyễn Trọng Bính tạo được mạch cảm xúc. Tác giả có những đoạn thơ nói về sự hy sinh trong chiến tranh:

Ðến giây phút năm cánh quân hội tụ

Tuổi trẻ bao người yên nghỉ, hóa vầng trăng

Hóa vầng trăng, biết bao người yên nghỉ

Có người vợ mang thai 9 tháng 10 ngày

Có người chồng

10 ngày...

9 tháng

Ðã nằm trong lòng đất

Chẳng biết con mình sẽ gái hay trai?

Ðể viết được một trường ca, chắc chắn tác giả phải khai mở thêm các chương đoạn khác và bồi đắp thêm vốn sống, cảm xúc.

Tập thơ của Võ Văn Hoa khá dày dặn về số lượng. Tác giả khai thác đề tài ở nhiều khía cạnh khác nhau. Võ Văn Hoa viết về con người, vùng đất Quảng Trị như: Quê mẹ Hải Lăng, Gửi người con gái ngoài Gio Linh, Tích Tường, Gửi người thầy giáo thương binh, Gặp ở Ðông Hà... Thơ Võ Văn Hoa có cảnh thực, tình thực. Từ những gì thu lượm được từ cuộc sống, tác giả muốn giãi bày bằng thơ. Tác giả nhắc tới thân phận người con gái mất chồng, phải mua hoa tưởng niệm thay cho quà tặng. Tác giả nhắc tới hạt gạo bằng bốn câu thơ giản dị:

Ăn gạo mòn răng mà chẳng biết

Hôm qua mạ nói: gạo ba trăng

Mới hay gạo cá thơm tình mạ

Trời đất! Con quên cả chị Hằng

Nguyễn Thị Anh Ðào đang tạo cho mình cách viết phóng khoáng trong cấu trúc, nhịp điệu. Bằng lối nói tự nhiên, tác giả không phụ thuộc nhiều ở vần điệu mà có khi vẫn cuốn hút người đọc theo lối đi riêng mình. Trong bài Hoa thạch thảo, tác giả mở rộng sự liên tưởng:

Em

Loài hoa chỉ nở một lần trong thương nhớ

Không kịp khoe hương trước muôn triệu đóa hồng

Thầm lặng với những khát khao

không thành tiếng khóc

Nguyễn Thị Anh Ðào còn có thơ Nhắn với sông La. Tác giả nhắc về tuổi thơ, về hình ảnh người mẹ gắn liền với dòng sông ký ức:

Sông La

Tôi tắm hai lần với tuổi thơ nồng bông dủ dẻ

trời ươm vàng những nắng

nước sông xanh và thời con gái mẹ tôi ngồi chải tóc

bóng tạc vào thời gian

Ngoài bốn tác giả đang sửa chữa hoàn thành tập thơ, những tác giả khác như: Hoàng Vũ Thuật, Hà Huy Hoàng, Lê Ðăng Sơn, Lam Kiều, Thanh Tuyền, Nhụy Nguyên, Ðào Viết Bửu cũng đã có những phần thơ, chùm thơ mới sáng tác.

Thơ mỗi người một vẻ, một dạng và cách tiếp cận đề tài cũng ở nhiều cung bậc khác nhau. Qua từng chặng đường, giai đoạn hiện tại Hoàng Vũ Thuật đã có những bước đột phá trong thơ, tác giả không bình ổn với những gì mình đã có và đang cố gắng vượt lên chính mình.

Sau các tập thơ Một nắng hai sương (1998), Hoa nắng hoa mưa (2001), 52 bài lục bát (2006), Hà Huy Hoàng vẫn sung sức, bền tâm với thơ. Lê Ðăng Sơn, cùng những bài thơ ngắn, thơ thiếu nhi, còn viết truyện thơ về người anh hùng liệt sĩ tuổi nhỏ Nguyễn Bá Ngọc trong giai đoạn chiến tranh đánh Mỹ. Lam Kiều có những bài thơ mới viết về Huế với những ý nghĩ cảm xúc chợt đến. Ðào Viết Bửu nghiêng về lối viết truyền thống với thể loại thơ lục bát, thơ ngũ ngôn, thơ thất ngôn. Thanh Tuyền muốn đổi mới trong bút pháp. Nhụy Nguyên có ý thức hướng tới sự chọn lựa ngôn ngữ và khai thác đề tài... Nhìn chung, các tác giả thơ trong trại sáng tác miền trung đều có những cố gắng riêng trong lao động sáng tạo, đó là điều rất đáng trân trọng, ghi nhận.

Có thể bạn quan tâm