Thơ Ngô Linh Ngọc


Xà lim huyết ca

Kỷ niệm Nhà tù Hỏa Lò Hà Nội năm 1940,
kính tặng hương hồn các liệt sĩ cách mạng Việt Nam

I

Tường đá dầy ken chừ, trong đêm vút cao,
Hau háu chòi canh chừ, mắt cuồng chó ngao
Sân vắng mênh mong chừ, gió đông lạnh buốt,
Lăn lóc đầu lâu chừ, đen ngòm hố sâu.
Trên nóc xà lim chừ, lá khô xào xạc,
Hay tiếng hồn oan chừ, thầm thì gọi nhau?
Khóa sắt lanh canh chừ, cửa buồng nào đó?(1)
Ai sắp ra đi chừ, chưa nghe tiếng chào!

II

Xà lim hay rẫy mồ sâu
Hành lang mờ mịt, máu nâu nhuộm tường,
Chân cùm, thép lạnh thấu xương,
Khúc ca sông Dịch canh trường gió reo!
Tiệm Ly, tiếng trúc vọng theo,
Nghẹn ngào ma khóc, cú kêu não nùng,
Kìa ai khúc quẫn, đường cùng
Đầu rơi, mắt vẫn trừng trừng lửa căm!

III

Xà lim, xà lim chừ, mi nghe thấy chăng?
Cùm sắt, cùm sắt chừ, hôm nay mở toang,
Ta đứng lên đây chừ, tóc xuyên mái ngói,
Hồn ta cao ngàn trượng chừ, vút cánh sao băng
Ta chẳng làm ma chừ, ta không làm quỷ
Đầu ra rụng xuống chừ, máu ta càng hăng
Bảy sắc cầu vồng tô đất Việt
Cho tre Phù Đổng đẹp thêm măng!
Xương trắng ngoài kia chừ, vào đây các bạn,
Xà lim huyết ca chừ, cùng nhau hát vang!...

(Hà Nội, trước xà lim tử tù, năm 1941)

-----------------

(1) Bọn thống trị Pháp thường vào khoảng bốn năm giờ sáng, mở cửa xà lim tử tù, đem các tù chính trị bắn (thời Quốc Dân Đảng Nguyễn Thái Học chúng còn xử chém)

Trăng rừng Việt Bắc

(Kỷ niệm đêm đầu tiên lên Việt Bắc)

Trăng rừng nháy giữa tán tròn xoe,
Rừng tối âm u, đóm lập lòe.
Cối gạo đầu khe dồn lốp cốp
Đàn gà đỉnh núi gáy le te
Nhà sàn thấp thoáng hương cau ngát,
Trâu trại gần xa tiếng mõ dè
Bếp lửa nhà ai, chồng với vợ
Nhịp nhàng điệu hát, đứa con nghe!...

(Na Hoàn 1948)

Nấm cỏ đồi xim

(Tặng hương hồn Hồ Xuân, vợ tôi)

Từ thuở biết anh chỉ một lần em khóc
Hôm mẹ già cười qua nước mắt
Tiễn em ra xe hoa
Về với anh, nghèo khó đợi quanh nhà!
Hà Nội cháy, em chẳng hề run sợ
Thanh thản theo anh bước vào khói lửa,
Sống chẳng lìa đôi, chết cũng chung đôi,
Nụ cười son không ngớt nở trên môi.
Quang gánh sớm khuya, mom sông tần tảo
Cô gái Hà Thành, tay mềm vai yếu,
Trồng sắn nuôi con, góp gạo nuôi quân.
Đợi ngày mai đất nước bình an,
Vui chiến thắng, trở về phố cũ
Anh lại làm thơ, em theo chợ búa,
Con đi trường, ríu rít tiếng chim non;
Giấc mộng em xây, bé nhỏ, giản đơn,
Trong khói lửa bỗng tan tành sụp đổ.
Bài hát "Đợi anh về" em chẳng còn hát nữa
Con cũng không còn chờ bố rẽ về thăm.
Đất lạnh ven đồi, hai nấm cỏ âm thầm,
Em nằm đó, con thơ ngây nằm đó!
Anh đứng sững, nghe tim mình rực lửa,
Nghe đất trời ran tiếng thét "xung phong!"
Nấm cỏ
Đồi sim
Máu rỏ mãi trong lòng!

(V.B. 1949)

Đoàn quân lưu vong

(Khoảng năm 1949, giặc Pháp dùng kế sách "tam quang", càn quét khủng bố rất mạnh tỉnh Sơn Tây, nhiều cơ sở kháng chiến của tỉnh phải bật sang Vĩnh Phúc xây dựng lực lượng, thường xuyên vượt sông trở về gây cơ sở trong lòng địch. Cái tên "du kích lưu vong" xuất hiện ở Sơn Tây thời đó)

- Anh đi đâu đấy hỡi anh?
Gió lạnh, bờ đê thẫm tối,
Trại giặc, ánh đèn le lói
Đầu sông tiếng súng nổ nhanh;
Bốt thù ngập ngụa máu tanh,
Chúng cười, chọc tiết dân lành uống chơi.
Thành Sơn lửa đốt tơi bời,
Làng quê thoi thóp vài hơi thở tàn.
Anh lẻn đi đâu, gồng gánh nặng,
Sông khuya, đò yếu cũng sang ngang
Hay về phố cũ buôn hàng giặc
Lối tắt, đường quanh bước vội vàng?
- Không, không, bà quán hỡi,
Gió lạnh quét đồng hoang,
Mở cửa, đừng nghi ngại,
Con là trai dưới làng;
Đêm khuya lặn lội đò giang.
Vượt qua súng giặc lần sang bên này,
Gạo ngô chở một gánh đầy
Cho đoàn du kích giết Tây no lòng!...
- Thôi, con! Đừng nói nữa
Vào đây, bếp lửa hồng
Sưởi lại bàn tay cóng
Cháo hoa đây, lót lòng;
Con tôi cũng đội lưu vong
Chồng tôi mắt lóa, lưng còng cũng theo,
Đêm nay đạn thét lửa reo,
Có như chiếc lá rụng vèo bến sông!...
- Bà ơi, bà cứ yên lòng,
Xứ Đoài đã khắp nơi cùng đứng lên;
Nhất thiêng là núi Tản Viên,
Giặc kia nào dễ ở yên đất này?
Quân dân ta đã hẹn ngày
Sạch sành sanh diệt hết bầy sói lang!

(Bến Tự 1949)

Vài nét về tiểu sử Ngô Linh Ngọc(1922 - 2004)

Ngô Linh Ngọc, tên khai sinh là Ngô Văn Ích sinh ngày 28-5-1922, quê làng Khả Do, xã Nam Viêm, huyện Mê Linh (nay thuộc thị xã Phúc Yên tỉnh Vĩnh Phúc). Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội. Nguyên ủy viên Ban chấp hành Hội Cờ tướng Việt Nam. Nguyên Phó Tổng Biên tập báo Tổ quốc..

Sinh ra trong một gia đình Nho học, trước cách mạng, học hết ban Tú Tài, làm thư ký sở Hỏa xa. Trong kháng chiến chống Pháp là biên tập viên các báo Quân du kích (Tổng Cục chính trị. QĐND Việt Nam) Quân Việt Bắc... Quân Bạch Đằng... Từ sau 1954 về công tác tại báo Tổ quốc.

Mất ngày mồng 1-3-2004.

Tác phẩm chính:

Sáng tác: Quân đội Nhân dân Việt Nam (diễn ca, 1950), Bác Hồ của chúng ta (diễn ca, 1955), Đêm tàn Bạch ốc, Mỹ cút đi (thơ trào phúng, 1975). Tuyển tập Ngô Linh Ngọc (2004).

Dịch thuật: Thơ Tùng Thiện Vương (1991, với Ngô Văn Phú)

Thơ Ngô Thì Nhậm (1978), Thơ Nguyễn Du (1996)

Thơ Nguyễn Trãi (2000), Thơ Lê Thánh Tông (1998)

Thơ Cao Bá Quát (sắp xuất bản)

Tác-ta-ranh xứ Taratcông (dịch chung với Ngô Văn Phú), v.v.

Khảo cứu, sưu tầm: Thơ ca trù (với Ngô Văn Phú - 1987)

Giải thưởng văn học: Giải khuyến khích cuộc thi thơ báo Cứu Quốc năm 1946.

Có thể bạn quan tâm