"Thiết địch thần phong" hay chuyện về cây sáo sắt

Thời ấy, Yên Thế là vùng hiểm địa, núi non trùng điệp, rừng già hoang vu, rậm rạp. Nghĩa quân Ðề Thám dựa vào chốn rừng thiêng, xuất quỷ nhập thần, nhiều phen làm cho thực dân Pháp thất điên bát đảo suốt 30 năm trời. Những hào kiệt tụ về đây, không chỉ biết sử dụng súng trường, súng kíp. Nhiều người giỏi võ nghệ, còn sử dụng những binh khí đặc biệt như: quạt sắt, quân cờ sắt hay sừng, trâm cài đầu, roi đi ngựa, hay đôi đũa cả được bà ba Ðề Thám sử dụng như song kiếm... trong đó có sáo sắt (thiết địch). Những binh khí này đặc biệt phát huy sở trường khi đi thám thính tình hình bởi ít khi bị quân địch phát hiện.

Không ai biết võ sáo đã có từ bao giờ và ai là người sáng tạo ra môn võ độc đáo này, nhưng trong khởi nghĩa Yên Thế, nó được nghĩa quân sử dụng rộng rãi. Tiếng sáo lúc cần là hiệu lệnh tập hợp hay tín hiệu báo quân thù. Khi thám thính trong lòng địch, cây sáo giắt lưng như một nhạc cụ ít người để ý, lúc gặp nguy hiểm trở thành vũ khí tung hoành. Lúc thanh nhàn, sáo là bầu bạn. Khi thắng trận mở hội khao quân, "Thiết địch thần phong" (bài võ sáo duy nhất của nghĩa quân Yên Thế được truyền đến ngày nay với tên "Bóng trăng Phồn Xương") biểu diễn dưới đêm trăng thanh, thể hiện tài nghệ, khí phách và tâm hồn người chơi.

Tận mắt được chứng kiến võ sư, nhà sưu tầm, nghiên cứu võ thuật Trịnh Như Quân và đệ tử Nguyễn Quý Toàn biểu diễn "Bóng trăng Phồn Xương", mới thấy phần nào cốt cách của những người luyện võ ở chốn "rừng thiêng" thuở trước. Võ sáo có cương có nhu, có mạnh mẽ có uyển chuyển dịu dàng, có oai hùng mà cũng đầy lãng mạn, tài tử. Bài võ có 51 chiêu thức, trong đó có 13 phép dùng kiếm được dùng cho sáo với những đặc trưng: đề (nâng lên), cách (gạt sang bên), điểm (đâm tới), phách (bổ xuống), tiệt (chặt), tiễn (người và kiếm cùng lao tới)... đều được sử dụng nhuần nhuyễn với cây sáo sắt.

Sáo sắt khi sử dụng như một thứ vũ khí, sáo sắt có uy lực rất mạnh. Không có độ sát thương cao như kiếm, nhưng sức công phá của cây sáo sắt không hề kém. Với cây sáo sắt, đệ tử của võ sư Trịnh Như Quân đã từng đánh vỡ cả chồng ngói năm viên. Tiếng sáo sắt đanh, chắc, mang bản lĩnh, khí phách nam tử. Theo võ sư Trịnh Như Quân kể: Cây sáo sắt dài tối thiểu 60cm, nặng khoảng 400g. Lỗ sáo được tạo ra theo thang âm chuẩn. Ðầu cây sáo sắt có buộc tua mầu rực rỡ để cây sáo thêm đẹp và phân biệt với đoản côn. Người thổi sáo sắt phải giỏi võ và am hiểu sáo. Nghe người thổi sáo, có thể biết nội lực, khí lực tới đâu, trình độ chơi sáo điêu luyện tới mức nào. Ðó chính là chỗ tinh túy của võ sáo.

Những câu chuyện về võ sáo Yên Thế, võ sư Trịnh Như Quân có thể kể cả ngày không hết. Ði đâu xa, người bạn đồng hành của ông là 7 cây sáo và tiêu. Trong đó cây sáo sắt được ông yêu hơn cả và coi là vô giá vì do chính tay ông giũa từng lỗ sáo làm nên (hai cây sáo sắt khác ông tặng cho hai học trò yêu). Cây sáo còn đặc biệt ở chỗ dài tới 90 cm và nặng gần 9 lạng. Nghĩa là phải... thật khỏe mới vừa thổi sáo, vừa đánh võ được. Võ sáo đã trở thành niềm đam mê, tâm huyết của ông trong suốt 15 năm trời, từ khi ông còn ở trong nhóm những người sưu tầm và phục hồi võ thuật của Sở Thể dục thể thao Bắc Giang đến với núi rừng Yên Thế vào mùa mưa 1991. Ðến với võ từ khi còn nhỏ vì có cha là võ sư nổi tiếng trong toàn tỉnh và say mê sáo, tìm được võ sáo đối với ông như tìm được người bạn tri kỷ, và ông đã hết lòng để làm cho một bài võ độc đáo của Việt Nam không bị thất truyền, cùng với những huyền thoại về những con người, vùng đất gắn với cuộc khởi nghĩa nông dân nổi tiếng trong lịch sử.

Khi ấy, trưởng bản rừng Phe Triệu Quốc Úy là truyền nhân cuối cùng của môn võ sáo. Cụ Triệu Úy giỏi võ có tiếng trong vùng, nhờ danh tiếng của cụ mà suốt mấy chục năm trời dân bản không bị thổ phỉ quấy nhiễu. Cụ được cậu ruột là Châu Ðoàn, người nghĩa quân Yên Thế một thời lừng lẫy võ thuật trong toàn tỉnh và các tỉnh lân cận, truyền thụ võ thuật trong đó có bài võ sáo. Và "Thiết địch thần phong" đã được cụ Úy lúc đó tuổi đã ngoại thất thập truyền dạy lại cho võ sư Trịnh Như Quân. Phải mất cả năm trời, võ sư Quân mới lĩnh hội được những chiêu thức cơ bản của bài võ. Ðến năm 1993, võ sáo bắt đầu được giới thiệu với đông đảo công chúng tại hội đền Suối Mỡ và ba năm sau được ghi trong Sổ tay võ thuật toàn quốc. Năm 1998 và 2001, võ sáo Bắc Giang đoạt giải đặc biệt tại Hội diễn thể thao văn hóa các dân tộc toàn quốc. Võ sáo đã trở lại với những người yêu quý môn võ cổ truyền của dân tộc như thế.

Có thể bạn quan tâm