LTS: Bản quyền truyền hình thể thao luôn là vấn đề được nhiều người quan tâm, đặc biệt trong bối cảnh lực lượng chức năng vừa tiến hành truy quét nhiều trang "web lậu", đồng thời giải bóng đá vô địch thế giới World Cup 2026 đang đến gần. Nhân dịp Ngày Sở hữu trí tuệ thế giới (IP Day 2026), Báo Nhân Dân xin giới thiệu bài viết của chuyên gia Trần Đăng Tuấn, nguyên Phó Tổng giám đốc Đài Truyền hình Việt Nam. Bản quyền thể thao liên quan đến rất nhiều môn thể thao khác nhau. Trong bài viết này, để tập trung làm rõ vấn đề, tác giả sẽ chỉ đề cập đến bản quyền bóng đá, là khu vực cạnh tranh bản quyền đã và đang “nóng nhất”.

Bản quyền bóng đá nước ngoài: Trước năm 2000, giá bản quyền World Cup hay các giải bóng đá nước ngoài khác cho Việt Nam rất thấp, thậm chí là giá tượng trưng hoặc được các đối tác trung gian trao tặng. Năm 2002, VTV mua bản quyền World Cup với giá trong vòng 1 triệu USD. Năm 2006, FPT mua bản quyền (như đơn vị kinh doanh bản quyền, không phải đơn vị sử dụng) với mức giá gấp đôi giá VTV đã mua kỳ trước, rồi bán lại cho các đơn vị phát sóng. Năm 2010, VTV mua bản quyền với giá chỉ cao hơn không nhiều so với giá của FPT năm 2006.

Nhưng từ 2014, các công ty trung gian quốc tế mua bản quyền World Cup cho khu vực có Việt Nam rồi bán lại với mức giá tăng vọt (năm 2014: khoảng 7 triệu USD; 2018: 12 triệu USD; 2022: giá chào 15 triệu USD). Thực tế, từ kỳ World Cup 2018, VTV  phải trông cậy vào sự “ra tay” của các doanh nghiệp lớn tài trợ mới có thể mua được bản quyền World Cup để phát trên kênh quảng bá, đáp ứng nhu cầu bức thiết của người xem.

Biểu Đồ Bản Quyền World Cup Tại Việt Nam

Cuộc đua kim tiền

Cú Nhảy Vọt Lịch Sử

Sự bùng nổ của giá bản quyền truyền hình World Cup tại Việt Nam qua các năm (Đơn vị: Triệu USD).

< 2000
Miễn phí / Tượng trưng

Giá rất thấp, thậm chí mang tính chất tượng trưng hoặc được các đối tác trung gian trao tặng.

2002 & 2006
1 - 2 Triệu USD

2002: VTV mua ~1 triệu USD.
2006: FPT mua lại với giá gấp đôi rồi phân phối lại cho các đơn vị phát sóng.

2010
Nhích nhẹ

VTV mua bản quyền với mức giá chỉ cao hơn không nhiều so với giá của FPT vào năm 2006.

2014 - 2022
7 - 15 Triệu USD

Các công ty trung gian quốc tế phân phối. Giá tăng vọt: 7tr (2014) -> 12tr (2018) -> Chào giá 15tr (2022).

Với Giải Ngoại hạng Anh (English Premier League - EPL), giá bản quyền tăng khó hình dung nổi theo tốc độ cấp số nhân. Giá VTV mua 3 năm bản quyền EPL 2004-2007 là 200.000 USD cho mỗi năm. Năm 2007–2010, khi VTC vào mua cạnh tranh, giá cho 3 năm vọt lên con số chục triệu USD. Từ năm 2010 trở đi K Plus tham gia quyết liệt trong mọi cuộc đấu giá bản quyền EPL, giá bản quyền truyền hình cho giải đấu này từ năm 2010 cho đến 2025 đã vượt qua các mốc 30 triệu USD, 40 triệu USD và tiếp cận 50 triệu USD cho mỗi đợt ba mùa.

Năm 2026, FPT Play, nối tiếp K Plus mua bản quyền EPL do công ty trung gian Thái Lan phân phối lại. Công ty này mua bản quyền Ngoại hạng Anh tại Việt Nam với giá khoảng 110 triệu USD cho 5,5 đến 6 năm (đến 2031). Dĩ nhiên, ít có khả năng FPT Play có thể mua từ họ với mức giá thấp hơn.

Ta có thể thấy việc tăng giá bản quyền các giải bóng đá lớn, thu hút mạnh công chúng tại Việt Nam, ngoài các nguyên nhân: Quy luật tăng giá bản quyền thể thao quốc tế; Mức lớn lên của thị trường truyền hình thể thao tại Việt Nam…thì có nguyên nhân là cạnh tranh mua bản quyền, do xuất hiện của các đơn vị truyền hình mới tại Việt Nam, trước hết là các đài truyền hình (Như VTC, K Plus), sau đó là các hệ thống, nền tảng mới (Viettel, FPT).

Các đơn vị mới cần có “hàng độc” lôi kéo người xem, tăng thuê bao, và bản quyền các giải bóng đá quốc tế lớn dường như luôn là con đường ngắn nhất để tạo sức bật. Đây là điều bình thường của thị trường truyền hình. Tuy nhiên về khách quan, nó tạo dòng xoáy tăng giá rất mạnh.

Người bán bản quyền các giải bóng đá quốc tế hấp dẫn là các công ty trung gian quốc tế dày dạn kinh nghiệm, biết rõ nhu cầu của các bên mua tại Việt Nam và biết tận dụng tối đa lợi thế để tối đa hóa lợi nhuận. Về phía các bên mua Việt Nam, cạnh tranh diễn ra theo hướng đơn vị mới chấp nhận giá cao vọt để nhanh chóng tạo chỗ đứng trên thị trường truyền hình trả tiền. Điều này dĩ nhiên khiến bên bán (công ty quốc tế) có ưu thế rất lớn.

Cộng hai yếu tố đó lại, chi phí để xem bóng đá quốc tế tại Việt Nam ở mức rất cao so với độ sâu của thị trường truyền hình - truyền thông Việt Nam. Chi phí này cuối cùng do người xem chi trả. Khi người xem không thể chi trả (số thuê bao và giá thuê bao không tăng đủ để gánh chi phí bản quyền, cộng thêm việc ăn cắp bản quyền trên mạng), cuộc đua mua bản quyền dễ thành “cuộc đua xuống đáy”, và thực tế có đơn vị đã thực sự “xuống đáy”, như K Plus.

Giá bản quyền giải đấu trong nước cũng tăng mạnh. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Giá bản quyền giải đấu trong nước cũng tăng mạnh. (Ảnh: TRẦN HẢI)

Về bản quyền bóng đá Việt Nam: Năm 2010, AVG đã có thỏa thuận mua bản quyền truyền hình V-League với mức 2 tỷ đồng/mùa. Tuy nhiên, thỏa thuận này bị ngừng thực hiện do các nguyên nhân thuộc về phía bán. Các năm trước 2022, VTV Cap mua bản quyền giải với mức 5 tỷ đồng/mùa. Từ 2023 , giá bản quyền V-League đã tăng gấp chục lần. Cạnh tranh mua bản quyền V-League diễn ra khá mạnh giữa các đơn vị truyền hình.

Tuy nhiên, so với các mức giá mua bản quyền bóng đá quốc tế, giá bản quyền bóng đá trong nước thấp hơn nhiều. Điều quan trọng nhất: Tiền mua bản quyền bóng đá Việt Nam, khác với tiền mua bản quyền bóng đá quốc tế, không chảy ra ngoài, mà góp phần đầu tư trở lại cho bóng đá nội. Vấn đề ở chỗ: Việc bán-mua độc quyền (dù không tuyệt đối) bản quyền V-League khiến khả năng tiếp cận của đông đảo công chúng xem truyền hình giảm đi.

Thực sự là công chúng yêu thích bóng đá xem được các trận cầu hấp dẫn, kể cả bóng đá nội, không dễ dàng như trước. Nếu như thời gian trước đây họ có thể xem các trận bóng đá hấp dẫn ngay trên kênh quảng bá, thì giờ đây điều đó chỉ trong các dịp rất hiếm hoi. Nguyên do là bản quyền thể thao tăng quá nhanh, khiến cho ngay cả VTV đến thời điểm này vẫn chưa thể có kênh truyền hình thể thao quảng bá chuyên biệt.

Nhiều người không sai khi cho rằng với những nhu cầu như nhu cầu xem bóng đá đỉnh cao, không thể xem xét như loại nhu cầu thiết yếu, mà chỉ là loại nhu cầu nâng cao, ai sử dụng cần bỏ chi phí. Nhưng khách quan thì: Xem bóng đá là niềm say mê không phân biệt giàu nghèo, nhưng giờ đây chỉ thuê bao truyền hình trả tiền mới có quyền đó. Hơn thế nữa, do mỗi đơn vị truyền hình chỉ có thể mua bản quyền một số giải nhất định, nên để xem được nhiều, người dân có thể phải là thuê bao không chỉ của một nền tảng hay hệ thống, mà còn phải mua thêm gói kênh của nhà cung cấp khác. Đó là hệ quả dễ nhìn thấy nhất.

Có lập luận rằng: Dù một đơn vị nắm bản quyền, người xem là thuê bao của các hạ tầng, đơn vị khác vẫn có thể xem nếu đăng ký gói kênh mà đơn vị có bản quyền bán quyền tiếp sóng cho các đơn vị, hạ tầng khác. Lập luận này có phần đúng, vì việc mua lại quyền tiếp sóng làm tăng độ tiếp cận của người xem và cũng là chia sẻ chi phí với đơn vị giữ bản quyền. Tuy nhiên nếu nhìn sâu hơn, ta sẽ thấy:

Bản thân việc bán quyền tiếp sóng không làm giảm giá bản quyền. Khi mua, giá bán được hình thành phần rất lớn từ sự “tranh mua” nên nói chung sẽ cao hơn là khi các bên mua cùng phối hợp để mua sử dụng chung.
Quyền tiếp sóng là một quyền phụ thuộc, đơn vị giữ bản quyền có thể quyết định theo cách tối đa lợi ích của mình, hạn chế lợi ích đơn vị tiếp sóng, có thể gây méo mó cạnh tranh thứ cấp, khác với chia sẻ quyền là khi các đơn vị có thể thỏa thuận phương thức hài hòa về nghĩa vụ đóng góp và quyền lợi.
Có quyền tiếp sóng không đem lại quyền thể hiện riêng của bên mua quyền tiếp sóng. Điều này hạn chế đua tranh trong sáng tạo nghề nghiệp truyền hình.
Và quan trọng hơn cả: Người xem chịu thêm gánh nặng chi phí do phải bắt buộc mua thêm gói kênh.

Hệ quả thứ hai, cũng dễ nhìn thấy, là các đơn vị kinh doanh truyền hình trả tiền chật vật trước bài toán: phải có bản quyền thể thao “độc” (ở đây ta đang bàn bóng đá) mới giữ chân hoặc phát triển thuê bao hiệu quả, nhưng chi phí cho bản quyền khiến kết quả kinh doanh bị ảnh hưởng rất nhiều. Vòng xoáy: Nhiều người tranh trả giá – Giá lên cao – Thuê bao , giá thuê bao phải tăng – Giữ chân và phát triển thuê bao khó hơn – Phải có bản quyền độc để có lợi thế giữ, tăng thuê bao – Phải tham gia cạnh tranh mua bản quyền…bào mòn nguồn lực. Ngoài trường hợp phải giữa đường đứt gánh như K Plus, các đơn vị khác đều phải đương đầu với nan đề này.

Ta cũng biết: Dù nguồn thu từ bản thân các chương trình bóng đá khó bù đắp chi phí bản quyền (cộng thêm chi phí khá lớn nữa để thực hiện chương trình), vẫn có các đơn vị chấp nhận, do kỳ vọng vào lợi ích gián tiếp của toàn bộ hệ sinh thái kinh doanh truyền hình – truyền thông đơn vị ấy đang có (có thể “bù chéo”). Nhưng đây không thể coi là cạnh tranh công bằng, vì đơn vị nào gánh nhiệm vụ mang tính xã hội, công ích nhiều hơn, sẽ lại yếu thế trong cuộc đua mua bản quyền.

Hệ quả thứ ba: Trường hợp mua bản quyền nước ngoài, do cạnh tranh mua giữa các đơn vị Việt Nam rất gay gắt, người bán luôn “cầm đằng chuôi”,  có lợi thế hầu như tuyệt đối khi thương lượng giá cả. Có nhiều khả năng giá bị đẩy cao tối đa. Nguồn lực xã hội (vì cuối cùng chi phí do người xem và doanh nghiệp gánh chịu) có thể bị tiêu phí ở mức độ trên mức hợp lý.

Hệ quả thứ tư: Cuộc cạnh tranh giữa các đơn vị làm truyền hình thể thao chủ yếu xoay quanh “Ai có bản quyền gì”, không phải là cạnh tranh về chất lượng xử lý nghiệp vụ nội dung, trong phân phối. Cái ta đang nhìn thấy là: đơn vị có đội ngũ thể hiện, bình luận, phân tích, dẫn dắt, phản ánh sự kiện thể thao tốt, một khi không giữ được bản quyền, sẽ không có “đất” phát huy nữa. Ngược lại, đơn vị do có thể đầu tư lớn để có bản quyền mới, lại mất nhiều năm mới xây dựng được đội ngũ và đạt trình độ thể hiện tương đương.

Trong thời gian đó, khán giả không được hưởng thụ chất lượng nội dung tốt như đã từng có trong giai đoạn trước. Thậm chí đơn vị nắm bản quyền không có động lực mạnh để nâng cao chất lượng thể hiện, do người xem chỉ có thể đến với họ nếu muốn xem giải đấu họ đã mua. Cuộc đua về nghiệp vụ bị hạn chế, ngược chiều với cuộc đua về bản quyền. Cạnh tranh “Ai trả giá cao hơn’ thay thế cho cạnh tranh về nâng chất lượng thể hiện, giảm giá và phục vụ thuê bao tốt hơn. Từ góc độ này, có thể thấy đua độc quyền bản quyền bóng đá không tạo ra giá trị mới, mà lại triệt tiêu cạnh tranh về nghiệp vụ.

Hệ quả thứ năm: Tốn nguồn lực lớn cho độc quyền bản quyền bóng đá ảnh hưởng đến bố trí nguồn lực xây dựng các nội dung khác, phục vụ các nhu cầu khác của người xem.

Từ các điều trên, có thể thấy rằng: Cuộc đua tranh để độc quyền bản quyền bóng đá (hoặc các giải đắt giá khác) có thể nhất thời đem lại lợi thế cho một đơn vị truyền hình trả tiền, nhưng không có lợi cho toàn bộ hệ thống truyền hình, không có lợi cho người xem. Mặt khác, chính đơn vị độc quyền có thể đối mặt với bài toán rủi ro trong kinh doanh.

Bản quyền bóng đá tăng như kích thước màn hình TV

Bản quyền bóng đá tăng như kích thước màn hình TV

Một điều có thể khiến nhiều người ngạc nhiên: Ở các nước châu Âu có thị trường thể thao nói chung, bản quyền bóng đá nói riêng, rất phát triển, và là nơi có các giải bóng đá hiện đang có giá bản quyền cao nhất, việc mua–bán bản quyền lại có sự can thiệp của nhà nước ở các mức độ khác nhau, trong đó có mức độ rất mạnh.

Ngay tại Anh, quê hương của EPL, bản quyền EPL phải bán cho nhiều đơn vị (Sky, TNT,Amazon…), chia các gói , ở mỗi gói độc quyền, các đơn vị truyền hình có cách khai thác tối đa qua thể hiện nội dung, phát triển nội dung, tạo cạnh tranh nghiệp vụ rất mạnh.

Tại Đức, độc quyền bị khóa ngay từ đầu, với việc cấm một đài bất kỳ mua Bundesliga một mình, và luôn có 2-3 đơn vị truyền hình khai thác bản quyền giải bóng đá này.

Tại Tây Ban Nha hay Italia, Pháp dù không ngăn chặn độc quyền ở mức như hai nước trên, nhưng không ở nước nào một đơn vị duy nhất nắm trọn hay gần như trọn vẹn bản quyền.

Tại Anh và Australia, Ấn Độ có nguyên tắc bảo vệ người xem miễn phí. Nhà nước lập danh sách các sự kiện thể thao lớn, khán giả rất quan tâm (như Olympic, World Cup, Giải quốc gia…) và quy định: Các công ty truyền hình trả tiền không được mua độc quyền trước các giải này, mà dành quyền mua cho các đơn vị truyền hình miễn phí (quảng bá).

Điểm chung là: hy sinh một phần hiệu quả thị trường để bảo vệ quyền tiếp cận của xã hội, mặc dù ở các nước này rất đề cao tự do cạnh tranh và hạn chế tối đa can thiệp của nhà nước vào hoạt động kinh doanh. Xuất phát từ nhìn nhận: Bản quyền thể thao có bản chất đặc biệt. Đây là loại tài sản khi chuyển giao độc quyền cho một đơn vị, thì toàn bộ khán giả phải “tuân thủ” (chỉ có thể xem ở đó).

Như vậy, cạnh tranh chỉ diễn ra khi mua quyền (quá trình đấu giá) thay vì trong quá trình phục vụ khán giả. Điều này dẫn đến giá bản quyền bị đẩy lên cao, hạn chế quyền tiếp cận, làm suy giảm cạnh tranh về chất lượng nội dung và trải nghiệm người xem. Khi đó, người xem không còn là trung tâm của quá trình vận hành của kinh doanh bản quyền thể thao nữa.

So sánh với các nước trên, việc mua bản quyền bóng đá nói riêng và bản quyền thể thao nói chung tại Việt Nam khác biệt: Nghiêng hơn về độc quyền hoặc có tính độc quyền ở mức cao; sự can thiệp điều tiết của nhà nước ít, có tính vụ việc, không ở cấp độ định hướng hay chính sách.

Bản thân việc mua độc quyền hay gần như độc quyền bản quyền thể thao của các đơn vị truyền hình hiện nay không sai về mặt pháp lý, nhưng thực tế đã cho thấy những hệ quả: Không tiết kiệm nguồn lực xã hội; không bảo đảm hài hòa lợi ích xã hội của người xem – hệ thống truyền hình – các đơn vị truyền hình.

Điểm bất hợp lý lớn nhất nằm ở chỗ: Ở Việt Nam, thực tế hiện nay chỉ có một số nhỏ đơn vị truyền hình – truyền thông có đủ năng lực để cạnh tranh mua bản quyền truyền hình thể thao giá trị cao để sử dụng trên hạ tầng của mình. Sau khi K Plus rút khỏi cuộc cạnh tranh, thực tế chỉ còn VTV, Vietel và FPT Play  là các đơn vị tham gia. Vào thời điểm này:

VTV
(và các đơn vị pay TV nằm trong hệ sinh thái VTV) là Đài quốc gia và là đơn vị trực thuộc Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, là đơn vị sự nghiệp có thu.
Viettel
Là doanh nghiệp chủ lực thuộc Bộ Quốc phòng.
FPT Play
Là đơn vị thuộc FPT Telecom – doanh nghiệp có phần vốn nhà nước do Bộ Công an đại diện quản lý với tỷ lệ chi phối.

Cả ba đơn vị này là các đơn vị nhà nước, ngoài việc đạt hiệu quả kinh doanh, chức năng quan trọng hàng đầu là phục vụ lợi ích xã hội, đáp ứng các nhu cầu về chính trị, văn hóa, tinh thần của công chúng. Nguồn lực của cả ba đơn vị này là nguồn lực công.

Khác với tất cả các mô hình quản lý nước ngoài như đã điểm qua ở trên, tại Việt Nam, việc điều tiết của nhà nước và sự phối hợp giữa các đơn vị này phải là điều tự nhiên và hoàn toàn có thể thực hiện theo cách tối ưu nhất. Nếu giữa các đơn vị này diễn ra cạnh tranh thuần túy khiến tiếp cận của người xem bị hạn chế, nguồn lực bị hao phí, không tối đa hóa năng lực của mỗi đơn vị, làm suy giảm động lực đua tranh nâng cao chất lượng nội dung – nghề nghiệp truyền hình…thì đó phải coi là không bình thường, bất hợp lý, là lỗi vận hành.

Các đơn vị trên cần và phải đi đầu dẫn dắt hình thành thị trường mua bản quyền thể thao phù hợp tối đa với lợi ích xã hội, lợi ích người xem và lợi ích phát triển bền vững của các đơn vị.

Cần phải có cái nhìn khác, cơ chế khác, trong đó có sự điều tiết, có thể theo nguyên tắc “đa tầng” như sau trong vấn đề mua bản quyền thể thao:

- Tầng 1: Ưu tiên cho khán giả xem truyền hình quảng bá. Liên quan đến các sự kiện thể thao, người xem đại chúng có nhu cầu cao đối với các sự kiện có ý nghĩa không chỉ thể thao mà còn ý nghĩa văn hóa–xã hội. Như: Bản quyền các sự kiện thể thao lớn của Việt Nam, các sự kiện thể thao quốc tế tổ chức tại Việt Nam, các giải thi đấu quốc gia của Việt Nam nhiều người hâm mộ , các trận thi đấu của đội tuyển quốc gia Việt Nam trong các giải quốc tế, các sự kiện thể thao quốc tế lớn như Olympic, World Cup, EURO….

Bản quyền các sự kiện này được mua trước thuộc về đơn vị sẽ phát sóng quảng bá miễn phí phục vụ người xem. Các đơn vị khác có thể phối hợp chia sẻ về nghĩa vụ tài chính và quyền lợi quảng cáo, tài trợ. Trường hợp không có đơn vị nào mua cho kênh quảng bá, việc mua bản quyền sẽ như ở tầng 2 hoặc 3.

- Tầng 2: Các giải thi đấu quốc tế có chất lượng cao, giá bản quyền cao, các đơn vị truyền hình đều có nhu cầu mua. Ví dụ: Giải Ngoại hạng Anh, các giải  thể thao quốc tế chất lượng cao, thuê bao và người xem của các hạ tầng và hệ thống truyền hình thuộc các đơn vị khác nhau đều có nhu cầu.

Bản quyền các sự kiện này, các đơn vị có nhu cầu không cạnh tranh riêng rẽ mà phối hợp mua để cùng sử dụng. Cách chia sẻ bản quyền có thể linh hoạt tùy theo nhu cầu của các đơn vị phối hợp mua, liên danh mua.

- Tầng 3: Các sự kiện, các giải thể thao khác, các sự kiện hoặc giải thể thao mới, nhu cầu của các đơn vị truyền hình về bản quyền không giống nhau.

Bản quyền của các sự kiện và giải thể thao này do các đơn vị chủ động mua tùy theo nhu cầu của mình, có thể liên kết hoặc không liên kết với đơn vị truyền hình khác.

Với các giải hay sự kiện mà đơn vị truyền hình nào là đơn vị sáng lập, đồng sáng lập, nắm giữ từ đầu bản quyền về truyền hình, đơn vị đó có quyền trong việc chia sẻ hay không chia sẻ bản quyền, trừ khi có điều tiết khác của Nhà nước.

Theo cách này, trục đánh giá năng lực chuyển từ “Ai có sự kiện” sang “Ai đem lại cho người xem trải nghiệm sự kiện tốt hơn”. Đơn vị sử dụng bản quyền có cách tối ưu cho hệ sinh thái truyền hình của mình, sẽ đạt hiệu quả cao hơn. Mặt khác, cơ chế xây dựng dựa trên sự thống nhất đồng thuận của các đơn vị nhằm đạt hiệu quả tối đa khi thương lượng mua bản quyền nước ngoài, tiết kiệm nguồn lực xã hội.

Về phía người xem, mô hình này đem lại lợi ích lớn: Người xem có khả năng tiếp cận dễ dàng hơn nhiều, với chi phí không bị đẩy lên do tăng chi trả cho các gói kênh khác nhau. Các đơn vị truyền hình cũng có thể tiếp cận bản quyền của các sự kiện, giải thể thao giá trị cao, không bị hạn chế về việc mỗi đơn vị chỉ có bản quyền của một số sự kiện hay giải. Từ đó, lợi ích của từng đơn vị cũng cao hơn do giữ được thuê bao, giữ người xem trung thành và phát triển được người xem, thuê bao mới.

Vấn đề bản quyền các chương trình thể thao cho đến giờ không còn chỉ là vấn đề kinh doanh nữa, mà đã là vấn đề  xử lý hài hòa lợi ích của xã hội, công chúng, vấn đề bảo đảm sự phát triển của các đơn vị truyền thông chủ lực của nhà nước không kiềm chế nhau, gây khó cho nhau, mà cùng phát triển. Hy vọng rằng các cấp quản lý sẽ có định hướng và điều tiết phù hợp để lành mạnh hóa , bảo đảm sự phát triển tối ưu của thị trường đặc thù này.

Ngày xuất bản: 4/2026
Chỉ đạo: NGUYỄN NGỌC THANH
Tổ chức sản xuất: HOÀNG NHẬT - HỒNG VÂN
Nội dung: TRẦN ĐĂNG TUẤN
Trình bày: PHAN THẠCH