- Thưa các chuyên gia, tốc độ BĐKH đang diễn ra, thậm chí nhanh hơn kịch bản BĐKH đã được dự báo. Ông, bà cho ý kiến đánh giá của mình về vấn đề này?
GS, TSKH Trương Quang Học: Mặc dù cuộc chiến chống BĐKH đã diễn ra hơn 20 năm, với 21 cuộc họp hằng năm của các nước tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về BĐKH (COP), nhưng nồng độ khí nhà kính (KNK) trong khí quyển, nguyên nhân gây ra BĐKH, vẫn tiếp tục gia tăng, BĐKH vẫn tiếp tục gia tăng trên phạm vi toàn cầu.
Ở Việt Nam, tình hình hạn hán và xâm nhập mặn tại khu vực miền trung, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long vào nửa đầu năm 2016 được đánh giá là nghiêm trọng nhất và chưa từng có trong lịch sử, gây thiệt hại ước tính khoảng 15.183 tỷ đồng; Bão số 1 - Mi-ri-na (Mirinae) năm 2016 gây thiệt hại hơn 3.400 tỷ đồng tại các tỉnh đồng bằng sông Hồng; rồi ngập lụt tại Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên - Huế, Bình Định Phú Yên; ngập lụt và sạt lở đất ở Yên Bái, Lào Cai; ngập lụt và triều cường ở TP Hồ Chí Minh...
Người ta tính rằng, nếu mực nước biển dâng 1m, sẽ có khoảng 39% diện tích đồng bằng sông Cửu Long, hơn 10% diện tích vùng đồng bằng sông Hồng có nguy cơ bị ngập và tổn thất khoảng 10% GDP. Nếu nước biển dâng 3m sẽ có khoảng 25% dân số cả nước bị ảnh hưởng trực tiếp và tổn thất đối với GDP lên tới 25%.
TS Lê Minh Nhật: BĐKH dẫn đến nhiệt độ tăng với tốc độ nhanh hơn trong những năm gần đây (nhiệt độ trung bình cả nước thời kỳ 1958-2014 tăng 0,620C, riêng 30 năm gần đây (1985-2014) có mức tăng 0,490C), nước biển dâng, bão mạnh tăng, nắng nóng gia tăng,…
Hiện nay, Bộ TN&MT đã công bố Kịch bản BĐKH và nước biển dâng cho Việt Nam được cập nhật đến năm 2016, kịch bản được xây dựng theo các kịch bản phát thải khí nhà kính (RCP) theo cách tiếp cận mới của IPCC (Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH). Các kịch bản được xây dựng chi tiết cho các địa phương và các khu vực ven biển Việt Nam theo từng thập kỷ của thế kỷ 21 giúp phục vụ hiệu quả việc triển khai kế hoạch hành động.
Chuyên gia Su-mai-ya Ka-bi: BĐKH và thiên tai là một trong những vấn đề đang được Liên hợp quốc, đặc biệt là UN Women quan tâm. Việt Nam là quốc gia nằm ở vị trí chịu nhiều ảnh hưởng của BĐKH, nhất là có nhiều người dân làm trong ngành nông nghiệp phải chịu ảnh hưởng nặng nề do thiên tai, như lũ lụt, hạn hán.
- Câu chuyện sinh kế đối với người dân vùng ảnh hưởng thiên tai do BĐKH đang là mối lo lớn… Chúng ta cần phải làm gì?
GS, TSKH Trương Quang Học: Đây là bài toán phức tạp. Phương châm chung là “Chung sống với BĐKH” như đồng bằng sông Cửu Long từng “Chung sống với lũ”, tìm “Cơ trong Nguy” theo Chiến lược chung toàn cầu là “Hài hòa với thiên nhiên”, “Hợp sinh thái”.
Theo đó, các giải pháp có thể bao gồm: Hỗ trợ người dân phát triển và nhân rộng các sinh kế thích ứng/chống chịu BĐKH, bảo đảm an sinh xã hội trong điều kiện của từng địa phương, nhất là các địa phương dễ bị tổn thương cao. Về lâu dài, cần có các quyết sách đồng bộ, bao gồm từ công tác quy hoạch (quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch vùng, quy hoạch dân cư…), đến cung cấp thông tin, nâng cao nhận thức, năng lực, tạo việc làm ổn định, nhất là cho những nhóm người dễ bị tổn thương…
TS Lê Minh Nhật: Hiện nay, sinh kế được phát triển theo xu hướng “sinh kế thích ứng” có khả năng chống chịu với BĐKH/giảm nhẹ phát thải KNK và phục hồi trước các tác động của BĐKH, bảo đảm, duy trì hoặc tăng năng suất, sản lượng một cách ổn định, đồng thời phù hợp khả năng và điều kiện kinh tế - xã hội của vùng chịu ảnh hưởng. Chủ động ứng phó với thiên tai và tăng cường giám sát khí hậu: Hiện đại hóa hệ thống quan trắc và công nghệ dự báo khí tượng thủy văn, bảo đảm dự báo và cảnh báo sớm các hiện tượng thời tiết; xây dựng hệ thống đánh giá và giám sát BĐKH và nước biển dâng; xây dựng quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quy hoạch dân cư, cơ sở hạ tầng dựa trên kịch bản BĐKH, có chú trọng đến các ngành và vùng trọng điểm...
Cần nhân rộng các mô hình sinh kế chủ động thích ứng với BĐKH; xây dựng kế hoạch thích ứng quốc gia nhằm bảo đảm an ninh lương thực thông qua bảo vệ, duy trì hợp lý và quản lý bền vững quỹ đất cho nông nghiệp; chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi; tạo giống mới thích ứng với BĐKH; hoàn thiện hệ thống kiểm soát, phòng, chống dịch bệnh; rà soát, điều chỉnh và phát triển việc làm và quá trình sản xuất phù hợp với điều kiện BĐKH gắn với xóa đói, giảm nghèo, công bằng xã hội; xây dựng các cơ chế, chính sách, tăng cường hệ thống bảo hiểm, chia sẻ rủi ro khí hậu và thiên tai...
Chuyên gia Su-mai-ya Ka-bi: Theo tôi, cần tìm ra những phương thức sản xuất, chăn nuôi phù hợp, cụ thể như với những người dân làm trong ngành nông nghiệp cần tìm ra những giống lúa chịu được hạn hán, và chịu được lũ lụt. Phải có sự chuẩn bị tốt hơn trong việc lập kế hoạch ứng phó trước khi thiên tai đến. Công tác dự báo cần cho người dân biết rõ thời tiết sẽ diễn biến thế nào, cũng như cung cấp cho họ kỹ năng phòng tránh, giúp ứng phó tốt hơn trong trường hợp thiên tai bất ngờ ập đến. Cần tạo ra những việc làm phù hợp với người dân vùng chịu ảnh hưởng, đặc biệt là phụ nữ. Phụ nữ phải được tham gia vào công tác lập kế hoạch và xây dựng các chương trình ứng phó với BĐKH và giảm rủi ro thiên tai tại tất cả các cấp.
Ngoài ra, Việt Nam cũng cần tạo ra những ngành công nghệ xanh, như những nhà máy, cơ sở sản xuất sử dụng công nghệ tái chế, năng lượng sạch bảo đảm không tiếp tục gây ảnh hưởng, tác động đến môi trường.
- Tổn thất kinh tế do tác động của BĐKH như phân tích ở trên là rất lớn. Việt Nam sẽ giảm những thiệt hại do tác động của BĐKH bằng cách nào?
GS, TSKH Trương Quang Học: Việt Nam cần phải làm song song cả hai nhóm nhiệm vụ: giảm những thiệt hại do BĐKH gây ra và tận dụng những cơ hội có lợi mà BĐKH có thể mang lại (thích ứng với BĐKH), và giảm nguyên nhân gây ra BĐKH (giảm phát thải khí nhà kính).
Nhiệm vụ quan trọng là tổ chức triển khai tốt hai kế hoạch chiến lược: Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris về BĐKH vừa được Chính phủ phê duyệt và Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện Chương trình nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững của Liên hợp quốc, đang được trình Quốc hội phê duyệt, bao gồm 17 mục tiêu chung và 115 mục tiêu cụ thể đến năm 2030. Điểm quan trọng là phải lồng ghép được nội dung của các kế hoạch này vào các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và các chương trình phát triển của các bộ, ngành và địa phương.
TS Lê Minh Nhật: Việt Nam cần chủ động tiến hành các hoạt động thích ứng BĐKH và giảm nhẹ phát thải khí nhà kính. Đẩy mạnh giám sát và đánh giá các hoạt động thích ứng BĐKH đến năm 2030 được đánh giá theo các chỉ tiêu đã đặt ra trong Báo cáo đóng góp quốc gia tự quyết định: Đạt ít nhất 90% các quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội được lồng ghép vấn đề quản lý rủi ro thiên tai và thích ứng với BĐKH…
Chuyên gia Su-mai-ya Ka-bi: Trong các chương trình phát triển kinh tế-xã hội của Chính phủ Việt Nam có nhiều chiến lược phù hợp tính đến cơ sở hạ tầng tại những khu vực chịu ảnh hưởng của BĐKH. Tôi cũng thấy sự linh hoạt khi di dời những khu dân cư trong vùng chịu sự nguy hiểm, đưa người dân đến sống những nơi cao hơn và an toàn hơn. Tuy nhiên, cần bảo đảm cho các hộ dân, cộng đồng sẵn sàng ứng phó với bão lũ, thiên tai đến và những cộng đồng này phải được chăm sóc, bảo vệ cũng như là hỗ trợ trong tiếp cận thông tin và tạo ra những việc làm phù hợp.
- Xin cảm ơn những chia sẻ của quý vị.