Thành công từ một chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước

Chương trình nghiên cứu ứng dụng và phát triển công nghệ tiên tiến phục vụ bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cộng đồng (mã số KC.10/11-15, Chương trình KC.10), được đánh giá là chương trình khoa học và công nghệ (KH và CN) trọng điểm cấp nhà nước thành công nhất. Kết quả thu được từ chương trình cho thấy hiệu quả của đầu tư cho KH và CN trong phát triển lĩnh vực y - dược hiện nay.

Một ca ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Hà Nội.Ảnh: HOÀNG LONG
Một ca ghép tạng tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, Hà Nội.Ảnh: HOÀNG LONG

Hiệu quả cao trong thực tiễn

PGS, TS Nguyễn Tiến Quyết, nguyên Giám đốc Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, chủ nhiệm đề tài “Nghiên cứu ứng dụng kỹ thuật can thiệp mạch và phẫu thuật nội soi trong điều trị chấn thương gan và thận, một đề tài thuộc Chương trình KC.10, cho biết, trước đây tại Việt Nam, người bệnh khi gặp chấn thương về gan và thận, buộc phải mổ mở, rất dễ gặp các biến chứng. Nhưng tại các nước tiên tiến, đối với những chấn thương tạng, các bác sĩ thường can thiệp mạch và phẫu thuật bằng nội soi.

Đây là hai phương pháp điều trị mới, sử dụng kỹ thuật cao, ít gây tổn thương cho người bệnh, tăng khả năng bảo tồn gan và thận, giảm các biến chứng trong và sau điều trị, cho nên đang được áp dụng rộng rãi. Những người bệnh được điều trị bằng phương pháp nói trên sẽ phục hồi sức khỏe nhanh, thời gian nằm viện được rút ngắn, lượng máu cần truyền thấp hơn và nguy cơ nhiễm trùng, biến chứng sẽ giảm hơn rất nhiều so với mổ mở. Nhưng tại thời điểm trước khi triển khai Chương trình KC.10, các bác sĩ tại Việt Nam vẫn chưa nắm bắt được kỹ thuật hiện đại nói trên, người bệnh phải ra nước ngoài điều trị, rất tốn kém.

Nhận thấy lợi thế tối ưu của kỹ thuật nói trên, các nhà khoa học tham gia đề tài đã sang Pháp học tập, cập nhật những kiến thức mới nhất về phẫu thuật nội soi trong điều trị chấn thương gan và thận, sau đó triển khai nghiên cứu các kỹ thuật này tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức.

Cũng theo PGS, TS Nguyễn Tiến Quyết, chúng ta đã làm chủ được kỹ thuật ngang tầm khu vực và thế giới. Đây là lần đầu Việt Nam xây dựng được chỉ định, quy trình kỹ thuật can thiệp mạch và phẫu thuật nội soi chuẩn trong điều trị chấn thương gan, thận, đạt yêu cầu kỹ thuật và tính thực tiễn cao. Người bệnh có thể điều trị tại Việt Nam với chi phí chỉ bằng từ 1/10 đến 1/5 so với điều trị ở nước ngoài.

Anh Nguyễn Văn Sỹ (Thanh Hà, Hải Dương) cho biết: Năm 2014, sau khi tai nạn, được các bác sĩ xác định chấn thương thận phải độ IV, được phẫu thuật bằng phương pháp nội soi tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, đến nay sức khỏe của anh đã hoàn toàn bình thường, không gặp bất cứ biến chứng nào trong và sau khi điều trị. Báo cáo từ Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức cho thấy, tính đến nay, từ 87% đến 96% số người bệnh chấn thương gan, thận đều được chữa trị bằng phương pháp can thiệp mạch và phẫu thuật nội soi, số còn lại là mổ mở, tất cả đều thành công, không có trường hợp tử vong. Từ thành công của đề tài, PGS, TS Nguyễn Tiến Quyết và các cộng sự đã tổ chức chuyển giao kỹ thuật cho bệnh viện đa khoa ở tuyến tỉnh: Bắc Giang, Ninh Bình, Thái Bình, Quảng Ninh, Lào Cai, Hà Giang, Điện Biên, Lạng Sơn, Bắc Ninh, Thanh Hóa… Bên cạnh đó, nhờ làm chủ kỹ thuật hiện đại, nhiều bác sĩ từ các nước trên thế giới đã đến Việt Nam để học hỏi kinh nghiệm, như: Hoa Kỳ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc…

Theo đánh giá của Bộ KH và CN, bên cạnh đề tài của PGS, TS Nguyễn Tiến Quyết, còn nhiều kỹ thuật công nghệ y học tiên tiến khác thuộc Chương trình KC.10 cũng đã thành công, đưa trình độ y học nước ta theo kịp các nước trên thế giới. Như việc làm chủ một số kỹ thuật: Ghép đồng thời tụy - thận từ người cho chết não (mã số KC.10.27/11-15); ghép thận từ người cho tim ngừng đập (mã số KC.10.28/11-15); phẫu thuật nội soi một lỗ và qua lỗ tự nhiên trong điều trị ung thư đại trực tràng (mã số KC.10.31/11-15); phẫu thuật nội soi trong điều trị bệnh sọ não (mã số KC.10.41/11-15)…

Bằng việc ứng dụng các kỹ thuật cao, mới trong điều trị, kết quả nghiên cứu của các đề tài thuộc Chương trình KC.10 do GS, TS Phạm Gia Khánh làm chủ nhiệm đã giúp việc chẩn đoán, điều trị cho người bệnh được nâng cao, giảm chi phí chữa bệnh, góp phần cứu nhiều người bệnh… Trong 5 năm thực hiện, Chương trình KC.10 đã triển khai 69 nhiệm vụ, với nhiều kết quả ấn tượng thuộc bốn nhóm lĩnh vực: Sản xuất vắc-xin và sinh phẩm y tế; các kỹ thuật và công nghệ trong chẩn đoán và điều trị; sản xuất một số thuốc hóa dược; sản xuất thuốc từ dược liệu.

Gỡ rào cản để phát triển

Thứ trưởng Y tế Lê Quang Cường cho biết, Chương trình KC.10 đóng vai trò quan trọng trong phát triển KH và CN ngành y tế. Nhờ có Chương trình KC.10, các nghiên cứu, kỹ thuật đã phát triển nhanh chóng, bắt kịp trình độ của thế giới. Nhưng trong quá trình nghiên cứu, các nhà khoa học còn gặp nhiều khó khăn, rào cản về cơ chế tài chính, các hỗ trợ chưa thiết thực. PGS, TS Hoàng Mạnh An, Giám đốc Bệnh viện 103 (thuộc Học viện Quân y - Bộ Quốc phòng, là đơn vị thực hiện thành công việc ghép đồng thời tụy - thận từ người cho chết não) cho biết, khó khăn nhất là vấn đề tài chính. Bộ KH và CN hỗ trợ chỉ đạt 50% đến 60% số kinh phí cần để thực hiện đề tài. Ngoài chi phí cho nghiên cứu, nắm vững kỹ thuật, chi phí để thực hiện ca ghép cũng là vấn đề nan giải, khi phải chuẩn bị vật tư, máy móc, thuốc… là những thứ không có sẵn ở bệnh viện.

Thuốc dùng trong đề tài, có những lúc chỉ cần dùng một lượng nhỏ, nhưng theo quy định phải tổ chức đấu thầu riêng, rất dễ cho các hãng, công ty phân phối thuốc nâng giá. Kinh phí để đưa cán bộ đi đào tạo ở nước ngoài để nắm bắt kỹ thuật tiên tiến cũng tốn hàng trăm triệu đồng... Theo một số nhà khoa học, việc cấp kinh phí cho các đề tài, dự án hằng năm chưa đúng thời hạn trong hợp đồng; trong quá trình thực hiện có nhiều biến động về giá cả vật tư, nguyên vật liệu… nhưng Bộ KH và CN không cho điều chỉnh bổ sung; nhiều thủ tục hành chính gây khó khăn cho điều hành, ảnh hưởng tiến độ thực hiện; các thủ tục thanh, quyết toán còn cứng nhắc, khiến nhiều nhà khoa học phải chia đề tài thành các chuyên đề để dễ quyết toán.

Một lãnh đạo Bộ KH và CN có ý kiến, việc ban hành hai Thông tư liên tịch số: 55/2015/TTLT-BTC-BKHCN và số 27/2015/TTLT-BKHCN-BTC, các nhà khoa học khi thực hiện đề tài, dự án sẽ linh hoạt hơn khi sử dụng nguồn kinh phí nhà nước cấp. Các nhiệm vụ KH và CN phải thực hiện theo hai hình thức: Khoán chi từng phần và khoán chi đến sản phẩm cuối cùng. Tổ chức chủ trì, chủ nhiệm nhiệm vụ tự quyết định việc mua sắm đối với nội dung được giao khoán, nhưng phải bảo đảm chế độ hóa đơn, chứng từ đầy đủ theo quy định pháp luật. Trong quá trình triển khai, việc sử dụng, thanh toán, tạm ứng và quyết toán kinh phí đều căn cứ vào số lượng công việc thực tế đã thực hiện; kho bạc nhà nước không kiểm soát chứng từ chi tiết, chỉ thực hiện kiểm soát chi theo bảng kê khối lượng công việc đã thực hiện.

Thứ trưởng KH và CN Phạm Công Tạc cho biết, hằng năm, người dân Việt Nam phải chi hàng tỷ USD cho việc khám, chữa bệnh ở nước ngoài. Bằng việc tiếp tục đầu tư nghiên cứu, ứng dụng
KH và CN hiện đại trong lĩnh vực y - dược, sẽ nâng cao trình độ bác sĩ, giáo sư hiện nay của nước ta ngang tầm khu vực và thế giới; người dân có thể yên tâm chữa bệnh tại Việt Nam. Từ kết quả của Chương trình KC.10 (giai đoạn 2011 - 2015), trong giai đoạn 2016 - 2020, Chương trình KC.10 sẽ tiếp tục được đầu tư với nguồn kinh phí và quy mô lớn hơn, đáp ứng nhu cầu thực tế của phát triển y - dược nước nhà.