Những tên tướng giặc hung hãn nhất, hỗn xược nhất cũng chỉ dám gọi Ngài bằng chức tước chứ không dám phạm húy, người đã hiển thánh trong lòng dân tộc. Con số một nghìn hai trăm đền miếu thờ Ngài trên cả nước đã nói lên điều đó.
Ngay từ đầu tháng Tám (âm lịch), tại những nơi như Kiếp Bạc, đệ nhất sinh từ; A Sào, đệ nhị sinh từ và Bảo Lộc, thái ấp cũ của Ngài, người tứ xứ đã tấp nập đổ về. "Tháng Tám giỗ cha, tháng Ba giỗ mẹ". Cha, tức đức Hưng Ðạo Ðại Vương, còn Mẹ là Mẫu Liễu Hạnh, một vị tiên đã hai lần thác sinh xuống cõi trần, lần thứ nhất ở Vân Cát (Vụ Bản, Nam Ðịnh) còn lần thứ hai ở Tây Hồ (Hà Nội). Mối "lương duyên" nào đã khiến cho hai con người, một tục một tiên, cách nhau hơn hai thế kỷ (Hưng Ðạo Ðại Vương sinh đầu thế kỷ XIII còn Mẫu Liễu, theo truyền kỳ, sinh thác xuống trần vào thế kỷ XV) trở thành Cha, thành Mẹ của dân gian? Câu hỏi ấy, các nhà nghiên cứu đã tốn rất nhiều giấy mực, và sẽ còn tốn nhiều giấy mực hơn nữa mới có thể trả lời xác đáng. Chỉ biết rằng Cha và Mẹ luôn hiện hữu trong tâm thức dân gian Việt ở mọi lúc, mọi nơi, nhất là mỗi khi con người gặp hoạn nạn hay gặp nghịch cảnh. Tại "cố trạch từ" (đền làm trên nền nhà cũ của Hưng Ðạo Ðại Vương) ở Lộc Vượng, chúng tôi gặp một người đàn bà bế cháu bé chừng một tuổi, xinh như một tiên đồng từ trong đền bước ra, chắc bà vừa xong một khóa lễ. Vẻ mặt vô cùng mãn nguyện, bà giơ cháu bé ra khoe với bất kỳ ai nhìn cháu - Cháu nội tôi đấy. Hôm cháu sinh, mẹ nó "bị Phạm Nhan làm". Cô y sĩ ở trạm y tế mặt tái mét, vừa tiêm cấp cứu vừa rối rít giục người nhà chuẩn bị cáng, đưa lên bệnh viện. Tôi cũng ba hồn bảy vía lên mây. Tôi chạy ra đền kêu đức thánh Trần phù hộ, cứu con cứu cháu tôi. Thế mà con tôi qua được, không phải đi viện nữa. Các ông các bà bảo đức Ngài có linh không?
Bệnh Phạm Nhan, hay Phạm Nhan làm, là cách gọi trong dân gian đối với chứng băng huyết của phụ nữ. Truyền rằng Phạm Nhan (sử ghi tên thật là Nguyễn Bá Linh) là một tên phù thủy người phương bắc, có tài hô phong hoán vũ, chặt đầu này lại mọc ra đầu khác... Phạm Nhan làm tướng trong đạo quân Nguyên sang xâm lược nước ta, và đã gây rất nhiều tội ác. Trong một trận chiến đấu quân ta bắt sống được hắn. Viên tướng chỉ huy truyền đem hắn ra chém đầu, nhưng gươm giáo, lửa nước đều không giết được hắn, sau đành cử người đến kêu cầu ở đền Phù Ðổng. Thần ứng vào con đồng, lên miệng phán rằng chỉ có một người giết được hắn, đó là Hưng Ðạo Ðại Vương. Tên tướng giặc - phù thủy lập tức được áp giải đến đại bản doanh của Quốc công Tiết chế. Vừa nhìn thấy Hưng Ðạo Ðại Vương, Phạm Nhan biết giờ chết của hắn đã điểm, hắn kêu to: "Tôi chết, Vương cho tôi ăn gì ?", Vương nổi giận quát "cho mày ăn máu... bà đẻ". Dứt lời, ông tuốt kiếm chém hắn bay đầu.
Trước uy dũng của Vương, không cái đầu nào khác của thằng phù thủy có thể mọc ra được nữa. Từ đấy hồn Phạm Nhan vật vờ khắp nơi, luôn tìm những nhà có đàn bà đẻ rúc vào.
Ðền A Sào thờ Hưng Ðạo Ðại Vương trước đây còn thờ một thanh gươm, tương truyền đó là thanh gươm mà Vương đã dùng để chém Phạm Nhan. Sau khi lấy công chúa Thuận Thiên triều Lý, Trần Liễu, thân sinh của Vương được tiến tước Phụng Kiền Vương, được phong đất ở Hương A Cảo, sau mở mang thêm, đặt thành A Sào. Làng A Sào cũ nằm trên khu đất nay là làng Bắc Dũng thuộc xã An Ðồng huyện Quỳnh Phụ tỉnh Thái Bình. Bốn thế kỷ trước làng bị tàn phá bởi một trận lụt khủng khiếp, những người sống sót đã dời làng đến đất mới (nay thuộc xã An Thái huyện Quỳnh Phụ), dựng lại cả đền thờ Hưng Ðạo Ðại Vương nhưng vẫn giữ tên làng cũ. Ðầu thế kỷ XX đền thờ Hưng Ðạo Ðại Vương bị giặc Pháp phá hủy, dân làng lại dựng một đền mới trên nền "Mễ Sương thắng tích" (nền kho gạo cũ của nhà Trần). Vương sinh tại A Sào nhưng không sống nhiều ở đó...
Tại A Sào, cho đến nay người ta vẫn không ngớt bàn tán về một sự kiện kỳ lạ xảy ra bốn năm về trước. Ngày 6-3 âm lịch (ngày giỗ Mẫu Liễu) năm Nhâm Ngọ (2002), tại Phủ Giầy (Vụ Bản, Nam Ðịnh) nơi có đền thờ và phần mộ của Mẫu, người ta làm một ông rồng dài 25 mét, to bằng vành xe đạp, khung tre, toàn thân lợp vải vàng, đầu và đuôi bằng xốp trắng vẽ hoa văn. Rồng được gắn vào mình gần 100 quả bóng bay bơm khí hy-đrô rồi được thả lên trời. Trước khi thả, người ta đề vào thân hàng chữ "ai gặp Rồng, xin gọi về Phủ Giầy theo số máy 0350.820... ". Rồng bay vút lên trời cao mù mịt không ai nhìn thấy gì nữa.
Hai ngày sau, phía đền thờ Cha ở A Sào đất Thái Bình, người ta nhìn thấy con rồng đó bay dọc theo sông Hóa. Qua bến Tượng (nơi thờ con voi của Hưng Ðạo Vương bị sa lầy chết trên sông) thì Rồng hạ dần độ cao, bay quẩn về phía nền đền A Sào cũ (đã bị quân Pháp phá) rồi quẩn lại, bay tiếp về đền A Sào mới trên nền Mễ Sương thắng tích và hạ hẳn, cách đền chừng 50 mét.
Các cụ Trần Văn Rường (Trưởng ban quản lý đền), Ðỗ Trọng Tý (thủ từ đền) và Ðỗ Quang Ðen là những người chạy đến chỗ Rồng hạ đầu tiên, và gọi điện về Phủ Giầy. Sự kiện "rồng thăng đất Mẹ, rồng hạ đất Cha" được coi là sự linh ứng kỳ diệu giữa Cha và Mẹ. Rất tiếc việc bảo vệ ông Rồng không tốt nên sau đó bị phá mất, nhà sử học Kỳ Hà hiện còn giữ được mấy bức ảnh một phần ông Rồng kỳ lạ đó...
Nước có giặc, được giao trọng trách thì lên ngựa coi quân, lập nên võ công lừng lẫy. Nước thanh bình lại trả ấn về với điền viên, suy ngẫm lẽ tồn vong để tìm kế sách cho "sơn hà vạn thuở điện kim âu", trồng thuốc thành rừng để cứu giúp dân nghèo. Thế nên "... Sau khi (Hưng Ðạo Ðại Vương) mất rồi, các châu huyện ở Lạng Giang hễ có tai nạn bệnh dịch, nhiều người cầu đảo ông. Mỗi khi đất nước có giặc vào cướp, đến lễ ở đền ông, hễ tráp đựng kiếm có tiếng kêu thì thế nào cũng thắng lớn..." (Ðại Việt sử ký toàn thư).