Cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1975 mà đỉnh cao là Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, đã kết thúc thắng lợi cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vĩ đại của dân tộc Việt Nam. Ðánh giá về sự kiện lịch sử trọng đại này, Báo cáo Chính trị của BCH T.Ư Ðảng tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV (12-1976) đã khẳng định: "Năm tháng sẽ trôi qua, nhưng thắng lợi của nhân dân ta trong sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước mãi mãi được ghi vào lịch sử dân tộc ta như một trong những trang chói lọi nhất, một biểu tượng sáng ngời về sự toàn thắng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng và trí tuệ con người, và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công vĩ đại của thế kỷ XX, một sự kiện có tầm quan trọng quốc tế to lớn và có tính thời đại sâu sắc."
Có được thắng lợi này, một trong những nguyên nhân, đồng thời cũng là một bài học sâu sắc, là Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh có sự chỉ đạo chiến lược sắc bén, huy động được sức mạnh của cả nước thực hiện quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược.
Những định hướng lớn mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã xác định ngay khi ký Hiệp định Geneva (con đường giải phóng miền nam chỉ là con đường cách mạng, không có con đường nào khác), sau đó được Hội nghị Bộ Chính trị (6-1956) và tài liệu Ðề cương cách mạng miền nam của đồng chí Lê Duẩn (8-1956) đã cụ thể hóa, đầu năm 1959, Hội nghị Trung ương lần thứ 15, với việc xác định con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, đã làm xoay chuyển tình thế cách mạng miền nam. Dưới ánh sáng của Nghị quyết 15, đồng khởi - những cuộc khởi nghĩa từng phần đã nổ ra và thắng lợi ở hầu khắp các vùng nông thôn rừng núi khu 5 và đồng bằng Nam Bộ. Ðây là sự mở đầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước rất độc đáo và sáng tạo của Ðảng ta.
Ðồng khởi đã "giáng một đòn bất ngờ vào chiến lược Eisenhower, làm thất bại một hình thức thống trị điển hình của chủ nghĩa thực dân kiểu mới Mỹ" (1).
Từ giữa 1961, Mỹ chuyển sang thực hiện chiến lược chiến tranh đặc biệt, sử dụng lực lượng tay sai ngụy quân, ngụy quyền với vũ khí, trang bị, phương tiện chiến tranh của Mỹ, do cố vấn Mỹ chỉ huy và thực hiện quốc sách "ấp chiến lược" nhằm đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân. Ðảng ta quyết định từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng, tiếp tục đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đồng thời đưa đấu tranh vũ trang lên song song, thực hiện đánh địch bằng hai chân (chính trị, vũ trang), ba mũi (chính trị, quân sự, binh vận), trên cả ba vùng chiến lược (rừng núi, nông thôn đồng bằng, đô thị). Chiến tranh nhân dân ở miền nam từ đó phát triển đến đỉnh cao. Từ 1961 đến 1963, qua tuyến vận tải chiến lược (cả bằng đường bộ và đường biển), đã có 40.000 cán bộ chiến sĩ, 165.000 khẩu súng các loại được đưa vào miền nam. Chủ tịch Hồ Chí Minh kêu gọi: "Mỗi người phải làm việc bằng hai để đền đáp cho đồng bào miền nam ruột thịt."
Ðầu năm 1965, chiến lược chiến tranh đặc biệt phá sản vì Quân giải phóng đã tiêu diệt được từng chiến đoàn của quân đội Sài Gòn, và "ấp chiến lược" bị phá từng mảng lớn. Mỹ quyết định chuyển sang thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ, ồ ạt đưa quân viễn chinh vào trực tiếp tham chiến ở miền nam, đồng thời dùng không quân, hải quân leo thang đánh phá miền bắc. Cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta đứng trước thử thách nghiêm trọng chưa từng thấy. Song, với tầm nhìn chiến lược, khoa học và biện chứng, Ðảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đánh giá đúng sức mạnh của Mỹ, đồng thời cũng nhận rõ những chỗ yếu, hạn chế của chúng, nên đã đề ra nhiệm vụ: "Ðộng viên lực lượng cả nước kiên quyết đánh bại cuộc chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ trong bất cứ tình huống nào." (2).
Giương cao ngọn cờ quyết tâm đánh thắng giặc Mỹ xâm lược của Hồ Chủ tịch, quân và dân ta tiếp tục giữ vững thế chủ động tiến công. Từ những trận đầu thắng Mỹ như Núi Thành, Vạn Tường, Bầu Bàng, Ðất Cuốc, Plây Me... miền nam tiến lên đánh bại hai cuộc phản công chiến lược mùa khô 1965 - 1966 và 1966 - 1967, đẩy địch vào thế bị động. Miền bắc đánh thắng chiến tranh phá hoại lần thứ nhất của đế quốc Mỹ.
Thắng lợi này đã đẩy Mỹ vào thế "tiến thoái lưỡng nan", Ðảng chủ trương mở cuộc tiến công đồng loạt vào dịp Tết Mậu Thân 1968 nhằm đánh một đòn mạnh và hiểm làm lung lay ý chí xâm lược của Mỹ. Mặc dù có những hạn chế, khuyết điểm vì chậm chuyển hướng tổng tiến công. Song, Tổng tiến công Mậu Thân 1968 là một chủ trương táo bạo và sáng tạo. Lần đầu tiên sau hơn mười năm kháng chiến chống Mỹ, chúng ta đã đưa chiến tranh vào thành thị, đánh vào đầu não Trung ương bộ máy chỉ đạo và điều hành chiến tranh của Mỹ - ngụy, làm đảo lộn thế chiến lược của quân Mỹ, làm rung chuyển nước Mỹ. Ðiều này, một lần nữa chứng minh sự sáng tạo trong chỉ đạo chiến lược của Ðảng ta. Nó làm cho Mậu Thân 1968 "có ý nghĩa chiến lược cực kỳ quan trọng, tạo ra bước ngoặt quyết định của cuộc chiến tranh, đánh dấu sự thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ của Mỹ, buộc Mỹ phải ngồi vào bàn đàm phán với ta ở Paris, chấm dứt ném bom không điều kiện, chủ trương phi Mỹ hóa chiến tranh, mở đầu thời kỳ xuống thang chiến tranh"(3), bắt đầu rút quân Mỹ từ năm 1969.
Nixon vừa chấp nhận thất bại của chiến lược chiến tranh cục bộ, vừa thực hiện Việt Nam hóa chiến tranh. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ ra phương hướng đấu tranh trong giai đoạn cách mạng mới là: "Ðánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào".
Thực hiện lời căn dặn của Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng như các nghị quyết của Ðảng, quân và dân ta đã kiên trì phấn đấu, từng bước vượt qua thử thách, khó khăn. Lợi dụng sai lầm của Mỹ khi đưa quân sang Cam-pu-chia và Lào, ta phối hợp với bạn mở các chiến dịch phản công như chiến dịch Ðông Bắc Cam-pu-chia, tiêu diệt phần lớn quân chủ lực ngụy Sài Gòn trong cuộc hành quân này, đặc biệt là đánh thắng cuộc hành quân Lam Sơn 719 của quân ngụy sang Ðường 9 - Nam Lào, giáng một đòn quyết định vào chiến lược Việt Nam hóa của Mỹ.
Năm 1972, Ðảng ta chủ trương mở cuộc tiến công chiến lược với quy mô rộng lớn, cường độ mạnh, nhịp độ nhanh, đã gây bất ngờ lớn cho Mỹ-ngụy. Qua cuộc tiến công chiến lược này, ta đã mở ra tình thế cách mạng thuận lợi mới. Mỹ buộc phải chấp nhận và thỏa thuận sẽ ký Hiệp định Paris vào cuối tháng 10-1972. Nhưng sau bầu cử Tổng thống, Nixon lại lật lọng. Cuối tháng 12-1972, Mỹ dùng máy bay B52 tập kích chiến lược vào Hà Nội, Hải Phòng và một số nơi khác trên miền bắc. Ðiều này rất đúng với dự đoán của Chủ tịch Hồ Chí Minh từ năm 1967: "Sớm muộn rồi đế quốc Mỹ cũng sẽ đưa B52 ra đánh Hà Nội rồi có thua mới chịu thua". Nhờ dự kiến trước và chuẩn bị sớm về tư tưởng, tổ chức và lực lượng, quân và dân ta ở miền bắc đã làm nên một trận "Ðiện Biên Phủ trên không", đập tan nỗ lực cuối cùng của Mỹ, buộc chúng phải ký Hiệp định Paris, công nhận độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Việt Nam và rút hết quân về nước.
Song Mỹ và chính quyền Sài Gòn thực hiện âm mưu mới, tiến hành các chiến dịch "tràn ngập lãnh thổ" chiếm lại nhiều vùng giải phóng của ta. Quân và dân ta trừng trị đích đáng quân đội ngụy ở Thượng Ðức, Chương Thiện. Trung ương Ðảng ra Nghị quyết 21 (7-1973), chỉ đạo các địa phương ở miền nam tiếp tục con đường bạo lực cách mạng, tạo thế, tạo lực, tạo thời cơ để tiến lên giải phóng hoàn toàn miền nam. Bằng chiến thắng Phước Long (6-1-1975), ta có thêm cơ sở vững chắc để khẳng định Mỹ khó mà can thiệp trở lại và dù có can thiệp cũng không cứu vãn được tình hình. Tình thế phát triển mau lẹ, kế hoạch giải phóng miền nam cũng từng bước được điều chỉnh cho phù hợp với tình hình. Từ kế hoạch giải phóng miền nam trong 2 năm, sau rút xuống còn trong năm 1975 và cuối cùng là trước mùa mưa bằng một cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1975, mở đầu bằng trận then chốt Buôn Ma Thuột và kết thúc bằng Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử, giành thắng lợi hoàn toàn chỉ trong 55 ngày đêm. Ðây là đỉnh cao của sự chỉ đạo chiến lược của Ðảng trong suốt 21 năm kháng chiến chống đế quốc Mỹ xâm lược.
Từ thực tiễn cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, có thể thấy nét đặc sắc trong chỉ đạo chiến lược của Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh thể hiện trên mấy điểm lớn sau:
Thứ nhất, Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh sớm nhận rõ kẻ thù, đánh giá đúng tương quan lực lượng địch - ta, có chủ trương, quyết sách phù hợp với từng thời điểm lịch sử cụ thể, đánh bại địch từng bước, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.
Ðồng chí Lê Duẩn đã từng nói: "Thành bại của một cuộc cách mạng, nói cho cùng là do lực lượng so sánh quyết định. Trong chiến tranh, kẻ nào mạnh thì thắng, kẻ nào yếu thì thua. Song nói mạnh yếu là nói theo quan điểm cách mạng, quan điểm phát triển"(4). Chính vì vậy, đánh giá đúng so sánh lực lượng đôi bên để có quyết sách đúng đắn là vấn đề có ý nghĩa quyết định đối với sự thành bại của chiến tranh.
Nếu so sánh đơn thuần về diện tích, dân số cũng như trình độ KHKT, tiềm lực kinh tế, quân sự, thì giữa ta và Mỹ có một khoảng cách khá xa. Về diện tích, nước ta chỉ bằng 1/20, dân số bằng 1/6, giá trị tổng sản lượng hàng năm (tính ở miền bắc) chỉ bằng 1/1.000 nước Mỹ. Với quan điểm xem xét khoa học và cách mạng, Ðảng ta vẫn khẳng định: Mỹ và tay sai có quân đông nhưng không có cơ sở chính trị sâu rộng và vững chắc, tuy quân sự chúng còn mạnh, nhưng chính trị của chúng lại rất yếu mà yếu nhất là ở nông thôn. Từ nhận định này, Ðảng xác định: "Con đường phát triển cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền nam là khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân"(5). Với chủ trương đúng đắn đó, cuộc đồng khởi ở miền nam Việt Nam đã nổ ra và giành thắng lợi, đưa cách mạng miền nam vượt qua thử thách sống còn, chuyển từ thế giữ gìn lực lượng sang thế tiến công. Thực tiễn đã chứng minh, quan điểm đánh giá lực lượng so sánh của Ðảng ta là hoàn toàn chính xác.
Sau Hiệp định Paris (1-1973), Mỹ và chư hầu phải rút khỏi miền nam, so sánh lực lượng giữa ta và địch có sự thay đổi lớn. Vấn đề đặt ra lúc này là liệu quân ngụy có thể thay thế Mỹ và liệu Mỹ có khả năng can thiệp trở lại không. Với chiến thắng Thượng Ðức (7-1974), ta khẳng định chủ lực ta hơn hẳn chủ lực ngụy. Ðến chiến thắng Phước Long (1-1975), Ðảng ta kết luận Mỹ không có khả năng quay trở lại. Sau Buôn Ma Thuột (3-1975), diễn biến trên chiến trường thay đổi mau lẹ trong từng tuần, có khi từng ngày. Ðảng ta đã nhạy bén nắm bắt tình hình, đánh giá đúng so sánh lực lượng địch ta trong từng thời điểm cụ thể, kịp thời đề ra và điều chỉnh kế hoạch Tổng tiến công và nổi dậy, giành được thắng lợi hoàn toàn trong vòng chưa đầy hai tháng.
Thứ hai, trong chỉ đạo chiến lược, Ðảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh giải quyết tốt quan hệ giữa nhiệm vụ cách mạng miền bắc và miền nam, tạo sức mạnh to lớn để đánh bại kẻ thù.
Một trong những đặc điểm và là đặc điểm lớn nhất, bao trùm nhất sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta là đất nước chia làm hai miền. Miền bắc tiến hành cách mạng xã hội chủ nghĩa còn miền nam tiến hành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân. Song, giữa cách mạng miền nam và cách mạng miền bắc có mối quan hệ hữu cơ gắn bó chặt chẽ với nhau, thúc đẩy lẫn nhau cùng thực hiện một mục tiêu chung của cách mạng Việt Nam là hòa bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh. Nhân dân Việt Nam, kể cả miền bắc và miền nam đều chung một kẻ thù, một mục tiêu; sự nghiệp cách mạng vẫn do một đảng lãnh đạo, một nhân dân và một quân đội tiến hành. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: "Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một. Sông có thể cạn, núi có thể mòn, song chân lý đó không bao giờ thay đổi". Người còn khẳng định: "Miền nam là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam", nên "31 triệu đồng bào hai miền nam - bắc là 31 triệu chiến sĩ diệt Mỹ".
Từ tháng 7-1954, Ðảng đã xác định phải xây dựng miền bắc thành căn cứ địa cách mạng của cả nước. Tại Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 7 (3-1955), nhiệm vụ của hai miền được xác định rõ hơn: "Miền bắc có vai trò quyết định nhất đối với toàn bộ sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà; miền nam có vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai để giải phóng miền nam, thống nhất nước nhà, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân."
Ðến Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ ba của Ðảng (9-1960), vị trí của cách mạng mỗi miền được Ðảng khẳng định lại một lần nữa: "Tiến hành cuộc cách mạng XHCN ở miền bắc là nhiệm vụ quyết định nhất đối với sự nghiệp phát triển của toàn bộ cách mạng Việt Nam, đối với sự nghiệp thống nhất nước nhà." Còn "đồng bào ta ở miền nam có nhiệm vụ trực tiếp đánh đổ ách thống trị của đế quốc Mỹ và bọn tay sai của chúng để giải phóng miền nam". Thực tế đã chứng minh, sự gắn bó của cách mạng hai miền đã tạo sức mạnh vô địch trên toàn đất nước. Ðường Hồ Chí Minh chẳng những là đường vận tải chiến lược mà còn là một căn cứ, một chiến trường, một biểu tượng nổi bật của ý chí Việt Nam "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước". "Miền bắc đã dốc vào chiến tranh giữ nước và cứu nước toàn bộ sức mạnh của chế độ XHCN và hoàn thành một cách xuất sắc nghĩa vụ căn cứ địa cách mạng của cả nước"(6). Còn nhân dân miền nam, dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Trung ương Cục, đã thể hiện vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đổ đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai thực hiện sáng tạo đường lối cách mạng của Ðảng trong cuộc chiến đấu kiên cường, dẻo dai, vượt qua mọi thử thách ác liệt, tạo ra sức mạnh mới như đồng khởi, vành đai diệt Mỹ, đánh địch bằng hai chân, ba mũi, ba vùng... xứng đáng là Thành đồng của Tổ quốc.
Thứ ba, giữ vững độc lập, tự chủ, đồng thời thực hiện đường lối đối ngoại mềm dẻo nhằm tăng cường đoàn kết quốc tế, tranh thủ sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới, phát huy sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại.
Cuộc đọ sức giữa nhân dân Việt Nam và đế quốc Mỹ xâm lược trở thành cuộc đọ sức điển hình và vô cùng quyết liệt giữa cách mạng và phản cách mạng. Ðảng ta độc lập, tự chủ trong hoạch định đường lối kháng chiến của mình. Nhưng để đương đầu với đánh bại ý chí xâm lược của một đối thủ giàu tiềm lực và sức mạnh cả về kinh tế và quân sự như Mỹ mà sức ta thì có hạn, phải kết hợp được cả sức mạnh dân tộc và sức mạnh thời đại. Muốn vậy, một mặt phải phát triển tiềm lực của chính mình, mặt khác phải thực hiện đường lối đối ngoại khôn khéo thì mới tranh thủ được sự đồng tình ủng hộ của các nước trên thế giới nhất là Liên Xô, Trung Quốc. Về vấn đề này, có thể nói Chủ tịch Hồ Chí Minh là người có tầm nhìn chiến lược sâu rộng, sắc sảo, sáng tạo.
Ðến 1965, khi đế quốc Mỹ thực hiện chiến lược chiến tranh cục bộ ở miền nam và chiến tranh phá hoại ở miền bắc, Ðảng ta chỉ rõ: "Chúng ta cần nắm vững phương châm dựa vào sức mình là chính, nhưng đồng thời, chúng ta hết sức tranh thủ sự đồng tình và ủng hộ của các nước XHCN, của các dân tộc Á, Phi, Mỹ - la-tinh và của nhân dân thế giới, kể cả nhân dân Mỹ"(7).
Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 21 (7-1973) lại khẳng định: "Nhờ thực hiện đoàn kết quốc tế đến mức cao nhất và giữ vững độc lập tự chủ trong đường lối, chủ trương, chính sách của mình, khi tình hình thế giới thuận lợi cũng như lúc khó khăn, phức tạp, chúng ta đã được các nước XHCN anh em, phong trào cộng sản và công nhân quốc tế, phong trào độc lập dân tộc và nhân dân toàn thế giới, kể cả nhân dân tiến bộ Mỹ ủng hộ và giúp đỡ, trong đó sự giúp đỡ của các nước XHCN là cực kỳ quan trọng".
Ðộc lập, tự chủ gắn liền với sự sáng tạo trong việc định ra và chỉ đạo thực hiện đường lối của Ðảng ta, đó cũng là nguồn gốc sức mạnh của cách mạng Việt Nam. Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử đã kết thúc toàn thắng quá trình đánh cho Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào. Từ thắng lợi vĩ đại của sự nghiệp giải phóng miền nam, thống nhất đất nước, chúng ta có cơ sở để phát huy cao độ tiềm lực của cả nước, thực hiện đại đoàn kết 54 dân tộc anh em trong một nhà nước của nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng, khắc phục mọi khó khăn, thoát ra khỏi khủng hoảng, bảo vệ vững chắc Tổ quốc và làm tròn nghĩa vụ quốc tế, thực hiện đường lối đổi mới đưa đất nước phát triển mạnh mẽ và toàn diện, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bên cạnh những cơ hội lớn, chúng ta phải đối mặt với những thách thức không nhỏ. Bốn nguy cơ mà Ðảng ta đã chỉ ra đến nay vẫn tồn tại và diễn biến phức tạp. Trong bối cảnh đó, việc không ngừng củng cố và tăng cường sự lãnh đạo của Ðảng là yếu tố quyết định của mọi thắng lợi. Những bài học về chỉ đạo chiến lược đúng đắn và sắc bén của Ðảng ta trong 30 năm chiến tranh giải phóng và bảo vệ Tổ quốc, ngày nay vẫn còn nguyên giá trị trong sự nghiệp lãnh đạo toàn Ðảng, toàn dân và toàn quân ta xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.
Ðể làm tốt cả hai nhiệm vụ này, trong tình hình quốc tế phức tạp hiện nay, cùng với ổn định về chính trị, nắm chắc các lực lượng vũ trang cách mạng, phải tập trung đẩy mạnh phát triển kinh tế, văn hóa bằng cả nội lực và hợp tác quốc tế trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, bình đẳng cùng có lợi, đa phương hóa, đa dạng hóa các mối quan hệ, xóa bỏ thành kiến hòa hợp dân tộc, hướng tới tương lai, chủ động hội nhập kinh tế thế giới.
Sau 30 năm chiến thắng, ngày nay đất nước ta đang có vị thế quốc tế tốt đẹp hơn bao giờ hết, lại đang trên đà phát triển mạnh mẽ, toàn diện. Quân và dân ta, dưới sự lãnh đạo của Ðảng, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, thực hiện đường lối đổi mới toàn diện, nhất định sẽ hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà Ðại hội Ðảng lần thứ IX xác định và chuẩn bị chu đáo cho Ðại hội X thành công rực rỡ.
--------------------
(*) Trích tham luận tại Hội thảo khoa học "Ðại thắng mùa Xuân 1975 - Bản lĩnh và trí tuệ Việt Nam".
(1) Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973).
(2) Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965).
(3) Báo cáo của Bộ Chính trị tại Hội nghị Trung ương lần thứ 21 (7-1973).
(4) Lê Duẩn: Thư vào Nam, Nxb Sự thật, H.1985, tr 363.
(5) Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 15, tháng 1-1959.
(6) Ðảng CSVN: Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương tại Ðại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 4, TLÐD, tr 289.
(7) Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 12 (12-1965).