ND - Nghĩa trang Dốc Bà Ðắc nằm trên địa bàn xã Thới Sơn (Tịnh Biên, An Giang) còn được gọi là Nghĩa trang Quân khu. Nghĩa trang khánh thành vào năm 1987, do Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xây dựng và sau đó bàn giao cho Quân khu 9. Từ năm 1995, nghĩa trang do Sở Lao động - Thương binh và Xã hội tỉnh An Giang (Sở LÐ - TB và XH) quản lý.
Nén nhang cháy dở, khói bâng khuâng chiều...
Trong những ngày tháng Bảy, chúng tôi theo quốc lộ 91 về thị trấn Nhà Bàng (huyện Tịnh Biên), không thẳng về cửa khẩu biên giới Tịnh Biên mà về hướng núi Cấm (xã An Hảo) cách đó khoảng 2 km - nơi đây là địa phận của xã Thới Sơn Anh hùng, để đến Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Bà Ðắc. Nghĩa trang nằm bên trái, theo hướng từ Nhà Bàng đến, đối diện là Tượng đài Chiến thắng. Và tại đây, ký ức đã đưa chúng tôi về với những năm tháng chiến tranh anh dũng, vang vọng lời thơ hào hùng ngày nào: "Dốc Bà Ðắc kèn reo chiến thắng".
Ðây là lần thứ hai tôi đến thăm viếng Nghĩa trang Dốc Bà Ðắc, từ sự thôi thúc của lương tâm mình, hay là từ những ngày tháng Bảy "nhớ ơn". Nhớ lại lần đầu viếng các liệt sĩ tại nghĩa trang là một dịp tình cờ, tôi theo đoàn soạn giả đi thực tế sáng tác bài ca vọng cổ huyện Tịnh Biên, theo yêu cầu của Thượng tá, NSƯT, soạn giả Trúc Linh là phải ghé viếng Nghĩa trang Quân khu. Lúc đó tôi thật sự "tò mò" với tên gọi mà soạn giả Trúc Linh gọi, đến nơi mới biết là Nghĩa trang liệt sĩ Dốc Bà Ðắc. Tôi thấy cô Trúc Linh đã không nén được nước mắt khi thắp nhang cho các anh. Có nhiều anh nằm ở đây ngày xưa từng là đồng đội của cô, bởi vậy "người còn lại mang rất nhiều kỷ niệm". Thời gian không cho phép chúng tôi nấn ná lâu hơn, bước chân đi mà ai cũng bịn rịn, tôi tự hứa với lòng sẽ trở lại nơi đây, làm một cái gì đó, nhỏ nhoi lắm, như thắp một nén nhang chẳng hạn.
Một buổi trưa hè trên biên giới, nắng như đổ lửa, hai bên đường vào nghĩa trang là những hàng sứ vẫn cố vươn mình mạnh mẽ trong một vùng đất đá khô cằn và nở những bông hoa trắng tinh khôi, hương thơm ngan ngát đã xoa dịu đi cái nắng gắt nơi miền biên giới Tây Nam. Chính giữa nghĩa trang là tượng đài Tổ quốc ghi công cao 16m, phía trước có tượng hai du kích đứng gác và hai bụi tre, tượng trưng cho sự bất khuất của dân tộc Việt Nam. Chúng tôi đến thăm các anh, khói nhang phảng phất nỗi niềm xúc động không thể nào kìm nén được.
Nhìn theo những hàng bia mộ, tôi biết rằng có rất nhiều người anh đã hy sinh khi tuổi đời chưa quá đôi mươi, độ tuổi đang hừng hực nhựa sống và nhiệt huyết. Các anh đã hiến dâng đời mình cho Tổ quốc, đã anh dũng chiến đấu và thanh thản trở về với lòng đất mẹ. Nhiều anh, quê tận Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng hoặc ở một miền quê nào đó của đất nước,... đi theo tiếng gọi thiêng liêng của Tổ quốc, của miền nam ruột thịt, xa quê hương nơi chôn nhau cắt rốn và đã nằm lại nơi đây. Nhiều anh, chỉ còn để lại cái tên, không rõ năm sinh, quê quán... Những người con anh hùng, Tổ quốc đã ghi công các anh, các anh sống mãi trong lòng dân tộc. Vâng, đó là đất nước tôi, "đất nước của những người con gái, con trai, khi Tổ quốc cần họ biết sống xa nhau". Nhiều anh, chưa bao giờ có được một tình yêu nam nữ, tất cả tình yêu của các anh đã dành cho Tổ quốc. Tên các anh đã gắn liền với tên đất nước, các anh là những người con ưu tú của một dân tộc anh hùng, các anh đã nằm xuống để đem lại độc lập, tự do cho mảnh đất hình chữ S này.
Giữa cuộc sống bộn bề và hối hả như hôm nay, những ngày tháng Bảy như khơi dậy lòng biết ơn đối với những người đã hy sinh cho chúng ta được sống yên bình. Nắng đã đi về phía bên kia nghĩa trang, chúng tôi lần theo bên những ngôi mộ của các anh. Quá nhiều tuổi thanh xuân. Không biết có phải tại khói của nhang làm cho mắt chúng tôi cay hay không, sao mắt ai cũng đỏ hoe? Các anh đã làm nên một thời hào hùng của đất nước, các anh đã viết nên một trang sử sáng ngời cho dân tộc. "Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh", đó là phương châm sống một thời của các anh - một thời hừng hực "xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước, mà lòng phơi phới dậy tương lai". Các anh có một thời hào hùng cho chúng tôi có những ngày hạnh phúc, ấm no. Nén nhang chiều nay có thể sẽ không bay vào lòng đất, sưởi ấm lòng các anh được, nhưng sẽ mang theo công ơn của các anh bay lên trời xanh, chắp thêm đôi cánh cho con chim bồ câu hòa bình bay cao hơn, xa hơn...
Ấm lòng người dưới mộ...
Nghĩa trang Dốc Bà Ðắc có diện tích tổng cộng là 35.326 m2, trong đó diện tích để an táng mộ liệt sĩ là 25.000 m2. Tỷ lệ cây xanh trong nghĩa trang là 30%. Hiện nay, ở nghĩa trang an táng phần mộ 6.165 liệt sĩ, trong đó có 2.450 mộ liệt sĩ vô danh. Phần lớn hài cốt liệt sĩ là do hai đội K90 và K93 đưa từ Cam-pu-chia về đây an táng.
Theo lời anh Nguyễn Văn Phúc, Tổ trưởng quản lý nghĩa trang, cũng là con liệt sĩ và đã có 15 năm công tác tại đây, thì gần như ngày nào cũng có thân nhân liệt sĩ đến viếng mộ con em mình, các gia đình ở ngoài bắc vào thường ngủ qua đêm tại Nhà khách của nghĩa trang. Nhà khách sạch sẽ và thông thoáng, có thể ở được 20 người. Theo quy định của Bộ LÐ - TB và XH, mỗi năm Nhà nước hỗ trợ một lần tiền tàu xe và tiền ăn uống cho thân nhân liệt sĩ thăm mộ các anh và mỗi lần thăm không quá ba người. Nhưng tiền hỗ trợ này, địa phương (tức là Phòng LÐ - TB và XH huyện) chỉ hỗ trợ tiền ăn (một ngày là 50.000 đồng), còn tiền xe đi lại do Phòng LÐ - TB và XH xác nhận, rồi thân nhân liệt sĩ về Sở LÐ - TB và XH tỉnh An Giang thanh toán. Anh Phúc cho chúng tôi biết, nhiều thân nhân liệt sĩ, sau khi viếng mộ con em mình xong thì lên xe về luôn. Có cụ bà đến viếng mộ con xong, không biết đường tới Sở LÐ - TB và XH, hoặc là xuống Long Xuyên rồi không biết Sở LÐ - TB và XH ở đâu, nên cũng về... Anh Phúc cũng kể cho chúng tôi nghe, nhiều gia đình đã làm giấy ủy quyền lại cho anh lĩnh giùm, rồi gửi cho họ. Như vậy, rõ ràng là cần có sự thống nhất một nơi để hỗ trợ chi phí cho thân nhân liệt sĩ, tránh phiền hà, tốn phí công sức, mà tấm lòng của dân của Nhà nước cũng đến với thân nhân liệt sĩ một cách bình dị, thân ái hơn. Như Sở LÐ - TB và XH tỉnh An Giang có thể giao xuống cho Phòng LÐ - TB và XH huyện chi hỗ trợ luôn tiền tàu xe cho gia đình thân nhân đến viếng mộ liệt sĩ chẳng hạn. Từ nghĩa trang tới Phòng LÐ - TB và XH khoảng hai cây số, anh Phúc bảo rằng, nếu được như vậy, mỗi lần gia đình thân nhân đến viếng mộ xong anh có thể đưa bà con mượn xe hoặc chở xuống phòng hướng dẫn thủ tục thanh toán luôn thì hay hơn, còn giá như khi biết có thân nhân liệt sĩ tới, phòng cử nhân viên xuống tận nơi thì hay biết chừng nào.
Còn một điều nữa làm cho tôi suy nghĩ là nỗi trăn trở của anh Phúc: "Nghĩa trang có năm vòi nước khoan dưới lòng đất, nhưng không vòi nào có nước, chúng tôi phải tưới cây cối và sinh hoạt chủ yếu là nước máy, những ngày nước máy bị "cúp" thì đành chịu!". Có lẽ vì vậy mà chúng tôi thấy đã có một vài cây xanh trong nghĩa trang không lớn nổi, nếu cứ tiếp tục như chăm tưới bằng nước máy thì vừa lãng phí nước sạch sinh hoạt, vừa tốn kém. Thiết nghĩ các ngành chức năng nên nghiên cứu tạo điều kiện thuận lợi cho anh em hoàn thành công việc ở đây, đem lại nhiều hơn nữa mầu xanh cho nghĩa trang.
Nghĩa trang rộng lớn mà Tổ quản lý chỉ gồm có ba người, ngoài anh Phúc, hai cô gái còn lại chủ yếu làm văn thư. Chính vì thế, việc quét dọn, chăm sóc cây xanh ở nghĩa trang, Tổ quản lý làm không xuể. Nhưng bằng tấm lòng của mình, anh Phúc và đồng nghiệp vẫn cố gắng để nghĩa trang luôn sạch sẽ, không khí trang nghiêm. Việc làm ấy làm vừa ấm lòng người nằm dưới mộ, vừa làm cho thân nhân liệt sĩ đến viếng thăm cũng cảm thấy được an ủi, hài lòng. Và đó cũng chính là sự thể hiện lòng biết ơn đối với những người cha, người mẹ, người anh người chị đã hy sinh cuộc đời để chúng ta có được cuộc sống như hôm nay.
TRẦN PHƯỚC SANG